Thứ Tư, 28 tháng 5, 2014

Kinh Phước Điền


Kinh Phước Điền 

1. Tôi nghe như vầy, một thời Phật du hóa tại nước Xá Vệ, trong rừng Thắng, vườn cấp Cô Độc. Bấy giờ, cư sĩ Cấp Cô Độc đi đến chỗ Phật, cúi đầu đảnh lễ sát chân Phật rồi ngồi xuống một bên, thưa rằng, Bạch Thế Tôn, ở đời có bao nhiêu hạng người phước điền, người xứng đáng được cúng dường? 

2. Đức Thế Tôn dạy, Này cư sĩ, ở đời có hai hạng người phước điền hay người xứng đáng được cúng dường. Những hạng người nào là hai? Một là hạng học nhân, hai là hạng vô học nhân. Hạng học nhân là các bậc thánh dưới quả A La Hán vì vẫn còn phải học. Hạng vô học nhân là các bậc thánh đắc quả A La Hán, không cần phải học nữa. Hạng hữu học có mười tám và hạng vô học có chín. 

3. Này cư sĩ, mười tám hạng người hữu học là những ai? Là 3.1. tín hành hay tùy tín hành, 3.2. pháp hành hay tùy pháp hành, 3.3. tín giải thoát hay tín thắng giải, 3.4. kiến đảo hay kiến chí, 3.5. thân chứng, 3.6. gia gia là những vị chứng quả dự lưu, 3.7. nhất chủng là những vị chứng quả dự lưu chỉ tái sinh một lần trước khi đắc Niết bàn, 3.8. hướng Tu Đà Hoàn, 3.9. đắc Tu Đà Hoàn, 3.10. hướng Tư Đà Hàm, 3.11. đắc Tư Đà Hàm, 3.12. hướng A Na Hàm, 3.13. đắc A Na Hàm, 3.14. trung Bát Niết Bàn là nhập Niết Bàn ngay sau khi thác sinh lên Tịnh cư thiên hay Niết bàn thân trung hữu, 3.15. sinh Bát Niết Bàn là thác sinh Tịnh cư thiên một thời gian mới nhập Niết bàn, 3.16. hành Bát Niết Bàn là thác sinh thượng giới tinh tấn tu tập mới nhập Niết Bàn, 3.17. vô hành Bát Niết Bàn là không cần tinh tấn tu tập nữa, 3.18. thượng lưu sắc cứu cánh là lần lượt tái sinh qua các cõi từ sơ thiền cho đến tầng cao nhất của sắc giới và nhập Niết Bàn tại đó. 

4. Này cư sĩ, chín hạng người vô học là những ai? Là 4.1. tư pháp là mong cầu vô dư Niết Bàn cấp thời vì sợ thối thất, 4.2. thăng tấn pháp là có khả năng tiến tới bất động tánh, 4.3. bất động pháp là căn cơ mãnh lợi không bị chi phối bởi bất cứ duyên gì, 4.4. thối pháp là gặp nghịch duyên bị sụt xuống các bậc thánh thấp hơn, 4.5. bất thối pháp, 4.6. hộ pháp, 4.7. hộ tắc bất thối bất hộ tắc thối là do thủ hộ mà không bị thối thất, 4.8. thật trụ pháp là không bị chi phối bởi nghịch duyên để thối thất nhưng không tiến tới, 4.9. tuệ giải thoát, câu giải thoát. 

5. Khi ấy đức Thế Tôn nói bài kệ:
Học, vô học trong đời
Đáng tôn đáng phụng kính
Các ngài tu chánh thân
Miệng ý cũng chánh hạnh
Ruộng tốt cho tại gia
Cúng dường được phước lớn. 

6. Phật thuyết xong, cư sĩ Cấp Cô Độc và các Tỳ Kheo hoan hỷ phụng hành. 

(Kinh Phước Điền, Phẩm Đại, Kinh Trung A Hàm, Phật Đà Da Xá và Trúc Phật Niệm dịch Hán, Thích Tuệ Sĩ dịch Việt và hiệu chú)

Ân Đức Phật


Ân Đức Phật 

1. Namo tassa Bhavagato Arahato Sammasambuddhassa
Con đem hết lòng thành kính đảnh lễ Ðức Thế Tôn, bậc A la hán, bậc Chánh Ðẳng Giác.

2. Con đem hết lòng thành kính đảnh lễ bậc Ứng cúng, Chánh biến tri, Minh hạnh túc, Thiện thệ, Thế gian giải, Vô thượng sĩ điều ngự trượng phu, Thiên nhơn sư, Phật, Thế Tôn.

3. Con đem hết lòng thành kính đảnh lễ bậc Ứng Cúng, bậc đáng được nhận sự cúng dường của chư thiên và loài người.

4. Con đem hết lòng thành kính đảnh lễ bậc Chánh Biến Tri, bậc giác ngộ tối thượng không thầy chỉ dạy.

5. Con đem hết lòng thành kính đảnh lễ bậc Minh Hạnh Túc, bậc có đầy đủ tuệ giác và đức hạnh.

6. Con đem hết lòng thành kính đảnh lễ bậc Thiện Thệ, đấng có sự hành trình hoàn hảo,  đấng khéo léo thuyết pháp chân lý đem lại lợi ích cho chúng sanh.

7. Con đem hết lòng thành kính đảnh lễ bậc Thế Gian Giải, người hiểu thấu tất cả các pháp của thế gian, người thông suốt Tam giới.

8. Con đem hết lòng thành kính đảnh lễ bậc Vô Thượng Sĩ Điều Ngự Trượng Phu, đức vô thượng giáo hóa chúng sinh, đấng điều ngự những chúng sinh chưa thuần thục không ai bằng.

9. Con đem hết lòng thành kính đảnh lễ bậc Thiên Nhân Sư, thầy của chư thiên và loài người, người hướng dẫn chư thiên và loài người đạt được lợi lạc trong hiện tại, tương lai, và cuối cùng được quả vị giải thoát.

10. Con đem hết lòng thành kính đảnh lễ đức Phật, người hiểu biết trọn vẹn tất cả những gì có thể biết được, người hiểu biết sâu sắc Tứ thánh đế và dạy cho chúng sinh hiểu được Tứ thánh đế.

11. Con đem hết lòng thành kính đảnh lễ đức Thế Tôn, người có những tính chất tuyệt đỉnh vượt lên trên tam giới.

(Niệm Ân Đức Phật, Susanta Nguyễn, Montreal, Québec, 2002)

Thứ Ba, 6 tháng 5, 2014

Thiền đi - Bài số 1


Thiền đi - Bài số 1

1. Bước chân trái, niệm “trái bước à” hoặc “bước à”.
Bước chân phải, niệm “phải bước à” hoặc “bước à”.
Khi đứng lại, niệm “đứng à”.
Khi xoay người, niệm “xoay à”.
Khi bước chậm, niệm “bước chậm à” hoặc “chậm à”.
Khi bước nhanh, niệm “bước nhanh à” hoặc “nhanh à”.
Khi tâm vượt khỏi sự theo dõi bước chân, niệm “phóng tâm à”.
Khi tâm muốn kết thúc sớm hoặc muốn qua bài, niệm “móng tâm à”.
2. Khi thực tập đi thiền, đi thẳng người, buông thư toàn thân, không nghiêng về bên trái hay nghiêng về bên phải, hai tay thả lỏng hai bên thân, mắt nhìn về phía trước khoảng một mét, thở bình thường.
3. Tâm đặt ở lòng bàn chân hoặc khu vực của bàn chân, tâm duyên theo sự cử động của bàn chân và  ý thức về sự di chuyển hay sự bước của chân. Sự cử động của chân là sự cử động của sắc pháp, và nhận biết sự cử động của chân là do tâm biết, đây là danh pháp.
4. Thiền đi không nhất thiết phải theo dõi hơi thở, vì không thể đặt tâm vừa ngay chỗ lòng bàn chân vừa ngay chỗ hơi thở. Không nên lạm dụng hơi thở và xem hơi thở là chánh niệm. Theo dõi hơi thở không phải là chánh niệm. Chánh niệm là nhận diện đơn thuần, không phán xét, không đặt ý niệm.
5. Thời gian ban đầu thực tập khoảng 15 phút, sau đó tăng thời gian thực tập lên, 20 phút, 30 phút hoặc nhiều hơn. Khi tâm suy nghĩ đến đối tượng khác ngoài việc theo dõi bước chân, niệm “phóng tâm à” cho đến khi buông bỏ đối tượng tâm phóng tới đó. Khi tâm đang thực tập mà khởi mong muốn kết thúc giờ đi thiền để nghỉ ngơi hay làm việc khác, hay mong muốn qua bài tiếp theo cho nhanh, niệm “móng tâm à” cho đến khi buông bỏ được sự mong muốn đó.
6. Thực tập đi thiền suốt ngày, từ việc đi từ nhà ra phố, từ chỗ để xe đến văn phòng làm việc, tử lên xuống cầu thang cho đến vào ra nhà vệ sinh. Bài thiền đi số 1 thích hợp cho thực tập ở mọi hoàn cảnh, kể cả việc đi chậm hay đi nhanh, nhưng dù chậm hay nhanh thì tâm cũng phải nhận biết.

Chủ Nhật, 27 tháng 4, 2014

Kinh Phân Biệt Sáu Xứ

Kinh Phân Biệt Sáu Xứ
(Salàyatanavibhanga sutta)


Như vầy tôi nghe.

Một thời, Thế Tôn ở Savatthi (Xá-vệ), Jetavana (Kỳ-đà Lâm), tại tinh xá ông Anathapindika (Cấp Cô Ðộc). Ở đấy, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo: "Này các Tỷ-kheo" --"Bạch Thế Tôn". Các vị Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn, Thế Tôn nói như sau:

-- Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng cho các Ông phân biệt sáu xứ. Hãy lắng nghe và suy nghiệm kỹ, Ta sẽ nói.
 -- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

Các vị Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:
-- Có sáu nội xứ cần phải biết. Có sáu ngoại xứ cần phải biết. Có sáu thức thân cần phải biết. Có sáu xúc thân cần phải biết. Có mười tám ý hành cần phải biết. Có ba mươi sáu loại hữu tình cần phải biết. Tại đây, do y cứ cái này, đoạn tận cái này, có ba niệm xứ mà một bậc Thánh phải thực hành, và có thực hành (niệm xứ) ấy, bậc Thánh mới xứng là bậc Ðạo sư diễn giảng đồ chúng. Trong các bậc Huấn luyện sư, vị ấy được gọi là bậc Vô thượng Ðiều ngự sư, điều phục các hạng người đáng được điều phục. Ðây là tổng thuyết về phân biệt sáu xứ.

Khi được nói đến "Sáu nội xứ cần phải biết", do duyên gì, được nói đến như vậy? Nhãn xứ, nhĩ xứ, tỷ xứ, thiệt xứ, thân xứ, ý xứ. Khi được nói đến: "Sáu nội xứ cần phải biết", chính do duyên này, được nói đến như vậy.

Khi được nói đến "Sáu ngoại xứ cần phải biết", do duyên gì, được nói đến như vậy? Sắc xứ, thanh xứ, hương xứ, vị xứ, xúc xứ, pháp xứ. Khi được nói đến: "Sáu ngoại xứ cần phải biết", chính do duyên này, được nói đến như vậy.

Khi được nói đến "Sáu thức thân cần phải biết", do duyên gì, được nói đến như vậy? Nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức, ý thức. Khi được nói đến: "Sáu thức thân cần phải biết", chính do duyên này, được nói đến như vậy.

Khi được nói đến "Sáu xúc thân cần phải biết", do duyên gì được nói đến như vậy? Nhãn xúc, nhĩ xúc, tỷ xúc, thiệt xúc, thân xúc, ý xúc. Khi được nói đến: "Sáu xúc thân cần phải biết", chính do duyên này, được nói đến như vậy.

Khi được nói đến "Mười tám ý hành cần phải biết", do duyên gì được nói đến như vậy? Sau khi mắt thấy sắc, ý chạy theo sắc trú xứ của hỷ, chạy theo sắc trú xứ của ưu, chạy theo sắc trú xứ của xả; sau khi tai nghe tiếng... ; sau khi mũi ngửi hương... sau khi lưỡi nếm vị... sau khi thân cảm xúc... sau khi ý nhận thức pháp, ý chạy theo pháp khởi lên hỷ, chạy theo pháp khởi lên ưu, chạy theo pháp khởi lên xả. Như vậy, có sáu hỷ hành, có sáu ưu hành, có sáu xả hành. Khi được nói đến "Mười tám ý hành cần phải biết", chính do duyên này, được nói đến như vậy.

Khi được nói đến "Ba mươi sáu loại hữu tình cần phải biết", do duyên gì, được nói đến như vậy? Sáu hỷ liên hệ tại gia, sáu hỷ liên hệ xuất ly, sáu ưu liên hệ tại gia, sáu ưu liên hệ xuất ly, sáu xả liên hệ tại gia, sáu xả liên hệ xuất ly.

Ở đây, thế nào là sáu hỷ liên hệ tại gia? Có hỷ khởi lên, hoặc do nhận được hay thấy sự nhận được các sắc do con mắt nhận thức, khả ái, khả hỷ, khả lạc, khả ý, liên hệ đến thế vật; hoặc do nhớ được những gì đã nhận được về trước, đã qua, đã diệt, đã biến hoại. Loại hỷ như vậy được gọi là hỷ liên hệ tại gia. Có hỷ khởi lên, hoặc do nhận được hay thấy sự nhận được các tiếng do tai nhận thức... các hương do mũi nhận thức... các vị do lưỡi nhận thức... các xúc do thân nhận thức... các pháp do ý nhận thức, khả ái, khả hỷ, khả lạc, khả ý liên hệ đến thế vật; hoặc do nhớ được những gì đã nhận được về trước, đã qua, đã diệt, đã biến hoại. Loại hỷ như vậy được gọi là hỷ liên hệ đến tại gia. Sáu hỷ này liên hệ đến tại gia.

Ở đây, thế nào là sáu hỷ liên hệ đến xuất ly? Sau khi biết các sắc pháp là vô thường, biến hoại, ly tham, biến diệt và nghĩ rằng: "Các sắc pháp xưa kia và các sắc pháp hiện tại, tất cả sắc pháp là vô thường, khổ, biến hoại". Sau khi như thật thấy như vậy với chánh trí tuệ, có hỷ khởi lên. Loại hỷ như vậy được gọi là hỷ liên hệ đến xuất ly. Sau khi biết được các tiếng... các hương... các vị... các xúc... các pháp là vô thường, biến hoại, ly dục, biến diệt và nghĩ rằng: "Các pháp xưa kia và các pháp hiện tại, tất cả các pháp là vô thường, khổ, biến hoại". Sau khi như thật thấy như vậy với chánh trí tuệ, có hỷ khởi lên. Loại hỷ như vậy được gọi là hỷ liên hệ đến xuất ly. Sáu hỷ này liên hệ đến xuất ly.

Ở đây, thế nào là sáu ưu liên hệ tại gia? Có ưu khởi lên; hoặc do không nhận được hay thấy sự không nhận được các sắc do mắt nhận thức, khả ái, khả hỷ, khả lạc, khả ý, liên hệ đến thế vật; hoặc do nhớ được những gì không nhận được về trước, đã qua, đã diệt, đã biến hoại. Loại ưu như vậy được gọi là ưu liên hệ tại gia. Có ưu khởi lên, hoặc do không nhận được hay thấy sự không nhận được các tiếng do tai nhận thức... các hương do mũi nhận thức... các vị do lưỡi nhận thức... các xúc do thân nhận thức... các pháp do ý nhận thức, khả ái, khả hỷ, khả lạc, khả ý, liên hệ đến thế vật; hoặc do nhớ được những gì không nhận được về trước, đã qua, đã diệt, đã biến hoại. Loại ưu như vậy được gọi là ưu liên hệ đến tại gia. Sáu ưu này liên hệ đến tại gia.

Ở đây, thế nào là sáu ưu liên hệ đến xuất ly? Sau khi biết được các sắc pháp là vô thường, biến hoại, ly tham, biến diệt và nghĩ rằng: "Các sắc pháp xưa kia và các sắc pháp hiện tại, tất cả sắc pháp là vô thường, khổ, biến hoại". Sau khi như thật thấy như vậy với chánh trí tuệ, vị ấy khởi lên ước muốn đối với vô thượng giải thoát, nghĩ rằng: "Khi nào ta có thể chứng đạt và an trú trong xứ (ayatana) mà các bậc Thánh đang chứng đạt và an trú?" Như vậy, do ước muốn đối với các vô thượng giải thoát, ưu khởi lên do duyên ước muốn. Loại ưu như vậy được gọi là ưu liên hệ xuất ly. Sau khi biết được các tiếng... các hương... các vị... các xúc... các pháp là vô thường, biến hoại, ly dục, biến diệt và nghĩ rằng: "Các pháp xưa kia và các pháp hiện tại, tất cả các pháp là vô thường, khổ, biến hoại". Sau khi sự thật thấy như vậy với chánh trí tuệ, vị ấy khởi lên ước muốn đối với các vô thượng giải thoát, nghĩ rằng: "Khi nào ta có thể chứng đạt và an trú trong xứ (ayatana) mà các bậc Thánh đang chứng đạt và an trú?" Như vậy, do ước muốn đối với các vô thượng giải thoát, ưu khởi lên do duyên ước muốn. Loại ưu như vậy được gọi là ưu liên hệ xuất ly. Sáu ưu này liên hệ xuất ly.

Ở đây, thế nào là sáu xả liên hệ tại gia? Khi một người ngu si, ám độn, phàm phu thấy sắc với con mắt, xả khởi lên của một vô văn phàm phu, không chinh phục được (phiền não), không chinh phục được quả dị thục, không thấy sự nguy hiểm. Loại xả như vậy không vượt khỏi sắc pháp. Do vậy, đây được gọi là xả liên hệ tại gia. Khi một người ngu si, ám độn, phàm phu nghe tiếng với tai... ngửi hương với mũi... nếm vị với lưỡi... cảm xúc với thân... nhận thức pháp với ý, xả khởi lên của một vô văn phàm phu, không chinh phục được (phiền não), không chinh phục được quả dị thục, không thấy sự nguy hiểm. Loại xả như vậy không vượt khỏi các pháp. Do vậy, đây được gọi là xả liên hệ tại gia. Sáu xả này liên hệ tại gia.

Ở đây, thế nào là sáu xả liên hệ xuất ly? Sau khi biết sắc pháp là vô thường, biến hoại, ly tham, biến diệt, nghĩ rằng: "Các sắc pháp xưa kia và sắc pháp hiện tại, tất cả sắc pháp là vô thường, khổ, biến hoại". Sau khi như thật thấy như vậy với chánh trí tuệ, xả khởi lên. Loại xả như vậy được gọi là xả liên hệ xuất ly. Sau khi biết được các tiếng... các hương... các vị... các xúc... các pháp là vô thường, biến hoại, ly dục, biến diệt, nghĩ rằng: "Các pháp xưa kia và các pháp hiện tại, tất cả các pháp là vô thường, khổ, biến hoại". Sau khi như thật thấy như vậy với chánh trí tuệ, xả khởi lên. Loại xả như vậy được gọi là xả liên hệ xuất ly. Sáu xả này liên hệ xuất ly.

Khi được nói đến "Ba mươi sáu loại hữu tình cần phải biết", chính do duyên này, được nói đến như vậy.

Khi được nói đến "Ở đây, do y cứ cái này, đoạn tận cái này", do duyên gì, được nói đến như vậy? Tại đây, này các Tỷ-kheo, do y cứ do duyên sáu hỷ liên hệ xuất ly, đoạn tận, vượt qua sáu hỷ liên hệ tại gia. Như vậy là sự đoạn tận chúng; như vậy là sự vượt qua chúng. Tại đây, này các Tỷ-kheo, do y cứ, do duyên sáu ưu liên hệ xuất ly; đoạn tận, vượt qua sáu ưu liên hệ tại gia. Như vậy là sự đoạn tận chúng; như vậy là sự vượt qua chúng. Tại đây, này các Tỷ-kheo, do y cứ, do duyên sáu xả liên hệ xuất ly, đoạn tận, vượt qua sáu xả liên hệ tại gia. Như vậy là sự đoạn tận chúng, là sự vượt qua chúng. Tại đây, này các Tỷ-kheo, do y cứ, do duyên sáu hỷ liên hệ xuất ly, đoạn tận, vượt qua sáu ưu liên hệ xuất ly. Như vậy là sự đoạn tận chúng, là sự vượt qua chúng. Tại đây, này các Tỷ-kheo, do y cứ, do duyên xả liên hệ xuất ly, đoạn tận, vượt qua sáu hỷ liên hệ xuất ly. Như vậy là sự đoạn tận chúng, là sự vượt qua chúng.

Này các Tỷ-kheo, có xả đa diện, y cứ đa diện; có xả nhứt diện, y cứ nhứt diện. Này các Tỷ-kheo, thế nào là xả đa diện, y cứ đa diện? Này các Tỷ-kheo, có xả đối với các sắc pháp, có xả đối với các tiếng, có xả đối với các hương, có xả đối với các vị, có xả đối với các xúc. Như vậy, này các Tỷ-kheo là xả đa diện, y cứ đa diện. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là xả nhứt diện, y cứ nhứt diện? Có xả y cứ Hư không vô biên xứ, có xả y cứ Thức vô biên xứ, có xả y cứ Vô sở hữu xứ, có xả y cứ Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Như vậy, này các Tỷ-kheo là xả nhứt diện, y cứ nhứt diện. Ở đây, này các Tỷ-kheo, do y cứ, do duyên xả nhứt diện, xả y cứ nhứt diện, đoạn tận vượt qua xả đa diện, xả y cứ đa diện. Như vậy là sự đoạn tận (xả) này, như vậy là sự vượt qua (xả) này. Này các Tỷ-kheo, do y cứ không tham dục, do duyên không tham dục, đoạn tận, vượt qua xả nhứt diện, xả y cứ nhứt diện ấy. Như vậy là sự đoạn tận (xả) này, như vậy là sự vượt qua (xả) này. Khi được nói đến: "Tại đây do y cứ cái này, đoạn tận cái này", chính do duyên này, được nói đến như vậy.

Khi được nói đến: "Có ba niệm xứ mà một bậc Thánh phải thực hành, và có thực hành (niệm xứ) ấy, bậc Thánh mới xứng là bậc Ðạo sư diễn giảng đồ chúng", do duyên gì, được nói đến như vậy? Ở đây, này các Tỷ-kheo, bậc Ðạo sư thuyết pháp cho các đệ tử, vì lòng từ mẫn, vì lo cho hạnh phúc của họ, vì thương tưởng họ, nói rằng: "Ðây là hạnh phúc cho các Ông, đây là an lạc cho các Ông". Một số đệ tử của bậc Ðạo sư ấy không có khéo nghe, không có lóng tai, không có an trú tâm vào chánh trí, và hành động ngược lại lời dạy của bậc Ðạo sư. Tại đây, này các Tỷ-kheo, Như Lai không có hoan hỷ, không có cảm giác hoan hỷ, nhưng sống không có dao động, chánh niệm, tỉnh giác. Này các Tỷ-kheo, đây là niệm xứ thứ nhất, một bậc Thánh phải thực hành, và có thực hành niệm xứ ấy, bậc Thánh mới xứng là bậc Ðạo sư diễn giảng đồ chúng.

Lại nữa, này các Tỷ-kheo, bậc Ðạo sư thuyết pháp cho các đệ tử, vì lòng từ mẫn, vì lo cho hạnh phúc của họ, vì thương tưởng họ, nói rằng: "Ðây là hạnh phúc cho các Ông, đây là an lạc cho các Ông". Một số đệ tử bậc Ðạo sư ấy không có khéo nghe, không có lóng tai, không có an trú tâm vào chánh trí, và hành động ngược lại lời dạy của bậc Ðạo sư. Có một số đệ tử khéo nghe, lóng tai, an trú tâm vào chánh trí, và không hành động ngược lại lời dạy của bậc Ðạo sư. Tại đây, này các Tỷ-kheo, Như Lai không có hoan hỷ, không có cảm giác hoan hỷ, không có không hoan hỷ, không có cảm giác không hoan hỷ; sau khi đoạn bỏ cả hai, hoan hỷ và không hoan hỷ, Như Lai trú xả, chánh niệm, tỉnh giác. Này các Tỷ-kheo, đây là niệm xứ hai, một bậc Thánh phải thực hành, và có thực hành niệm xứ ấy, bậc Thánh mới xứng là bậc Ðạo sư diễn giảng đồ chúng.

Lại nữa, này các Tỷ-kheo, có bậc Ðạo Sư thuyết pháp cho các đệ tử, vì lòng từ mẫn, vì lo cho hạnh phúc của họ, vì thương tưởng họ, nói rằng: "Ðây là hạnh phúc cho các Ông, đây là an lạc cho các Ông". Ðệ tử của bậc Ðạo Sư ấy khéo nghe, lóng tai, an trú tâm vào chánh trí và không đi ngược lời dạy của bậc Ðạo Sư. Tại đây, này các Tỷ-kheo, Như lai hoan hỷ, và cảm giác hoan hỷ, sống không dao động, chánh niệm, tỉnh giác. Này các Tỷ-kheo, đây là niệm xứ thứ ba, một bậc Thánh phải thực hành, và có thực hành niệm xứ ấy, bậc Thánh mới xứng là bậc Ðạo sư diễn giảng cho đồ chúng.
Khi được nói đến: "Có ba niệm xứ, một bậc Thánh phải thực hành, và có (thực hành) niệm xứ ấy, bậc Thánh mới xứng đáng là bậc Ðạo sư diễn giảng cho đồ chúng", chính do duyên này, được nói đến như vậy.

Khi được nói đến: "Trong các vị Huấn luyện sư, vị ấy được gọi là vị Vô thượng Ðiều ngự sư, điều phục hạng người đáng được điều phục", do duyên gì được nói đến như vậy? Này các Tỷ-kheo, một con voi được điều phục do một vị điều ngự tượng sư dắt dẫn chỉ chạy về một phương, phương Ðông, phương Tây, phương Bắc hay phương Nam. Này các Tỷ-kheo, một con ngựa được điều phục do một vị điều ngự mã sư dắt dẫn chỉ chạy về một phương, phương Ðông, phương Tây, phương Bắc hay phương Nam. Này các Tỷ-kheo, một con bò được điều phục do một vị điều ngự sư dắt dẫn chỉ chạy về một phương, phương Ðông, phương Tây, phương Bắc hay phương Nam.

Này các Tỷ-kheo, một người được điều phục do Như Lai, bậc A-La-Hán, Chánh Ðẳng Giác dắt dẫn, được chạy cùng khắp cả tám phương.

Có sắc, thấy các sắc pháp; đó là phương thứ nhất. Không có tưởng nội sắc, thấy các ngoại sắc; đó là phương thứ hai. Nghĩ đến thanh tịnh, chú tâm trên ấy; đó là phương thứ ba. Vượt qua một cách hoàn toàn các sắc tưởng, diệt trừ đối ngại tưởng, không tác ý sai biệt tưởng; và nghĩ rằng "Hư không là vô biên", chứng đạt và an trú Không vô biên xứ; đó là phương thứ tư. Vượt qua một cách hoàn toàn Không vô biên xứ, nghĩ rằng: "Thức là vô biên", chứng đạt và an trú Thức vô biên xứ; đó là phương thứ năm. Vượt qua một cách hoàn toàn Thức vô biên xứ, nghĩ rằng: "Không có gì cả", chứng đạt và an trú Vô sở hữu xứ; đó là phương thứ sáu. Vượt qua một cách hoàn toàn Vô sở hữu xứ; chứng đạt và an trú Phi tưởng phi phi tưởng xứ; đó là phương thứ bảy. Vượt qua một cách hoàn toàn Phi tưởng phi phi tưởng xứ, chứng đạt và an trú Diệt thọ tưởng (định); đó là phương thứ tám.

Này các Tỷ-kheo, một người đáng được điều phục do Như Lai, bậc A-La-Hán, Chánh Ðẳng Giác dắt dẫn, được chạy cùng khắp tám phương này.

Khi được nói đến: "Trong các vị Huấn luyện sư, vị ấy được gọi là Vô thượng Ðiều ngự sư, điều phục hạng người đáng điều phục", chính do duyên này, được nói đến như vậy.

Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Các vị Tỷ-kheo ấy hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy.


(Theo Trung Bộ Kinh, HT Thích Minh Châu dịch)

Thứ Tư, 9 tháng 4, 2014

Kinh Hạnh Phúc


MAṄGALA SUTTA

Evam me sutaṃ .
Ekaṃ samayaṃ bhagavā sāvatthiyaṃ viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme. Atha kho aññatarā devatā abhikkantāya rattiyā abhikkantavaṇṇā kevalakappaṃ jetavanaṃ obhāsetvā yena bhagavā tenupasaṅkami upasaṅkamitvā bhagavantaṃ abhivādetvā ekamantaṃ aṭṭhāsi.
Ekamantaṃ ṭhitā kho sā devatā bhagavantaṃ gāthāya ajjhabhāsi.
Bahū devā manussā ca maṅgalāni acintayuṃ ākaṅkhamānā soṭṭhānaṃ brū himaṅgalamuttamaṃ :

1- Asevanā ca bālānaṃ paṇḍitānañca sevanā pū jā ca pū janīyānaṃ etaṃ maṅgalamuttamaṃ .
2- Paṭirū padesavāso ca pubbe ca katapuññatā attasammāpaṇīdhi ca etaṃ maṅgalamuttamaṃ .
3- Bāhusaccañca sippañca vinayo ca susikkhito subhāsitā ca yāvācā etaṃ maṅgalamuttamaṃ .
4- Mātāpitu upaṭṭhānaṃ puttadārassa saṅgaho anākulā ca kammantā etaṃ maṅgalamuttamaṃ .
5- Dānañca dhammacariyā ca ñātakā-nañca saṅgaho anāvajjāni kammāni etaṃ maṅgalamuttamaṃ .
6- Aaratī viratī pāpā majjapānā ca saññamo appamādo ca dhammesu etaṃ maṅgalamuttamaṃ .
7- Gāravo ca nivāto santuṭṭhī ca katañ-ñutā kālena dhammassavanaṃ etaṃ maṅgalamuttamaṃ .
8- Khantī ca sovacassatā samanānañca dassanaṃ kālena dhammasākacchā etaṃ maṅgalamuttamaṃ .
9- Tapo ca brahmacariyañca ariyasaccāna dassanaṃ nibbānasacchikiriyā ca etaṃ maṅgalamuttamaṃ .
10- Phuṭṭhassa lokadhammehi cittaṃ yassanakampati asokaṃ virajaṃ khemaṃ etaṃ maṅgalamuttamaṃ .
Etādisāni katvāna sabbatthamaparājitā sabbattha sotthiṃ gacchanti tantesaṃ maṅgalamuttamanti.

KINH HẠNH PHÚC

Ta (là A nan Ðà) có nghe như vầy:

Một thuở nọ Ðức Thế Tôn ngự tại Kỳ Viên tịnh xá của trưởng giả Cấp Cô Ðộc, gần thành Xá Vệ (Sāvatthī)

Khi ấy, có vị Trời chiếu hào quang xinh đẹp, làm cho trọn cả Kỳ Viên sáng ngời rực rỡ, vị Trời ấy đến nơi Phật ngự, đảnh lễ đức Thế Tôn xong rồi, đứng tại chỗ nên đứng.

Khi đã đứng yên, vị Trời ấy bèn bạch với đức Thế Tôn, bằng lời kệ rằng:

Tất cả chư Thiên cùng nhơn loại, đều cầu xin được những hạnh phúc và cố tìm xét những điều hạnh phúc. Bạch đức Thế Tôn, xin Ngài mở lòng bác ái, giảng giải về những hạnh phúc cao thượng.

Ðức Thế Tôn tùy lời hỏi mà giảng rằng:

1)
Một: tư cách không xu hướng theo kẻ dữ;
Hai: tư cách thân cận các bậc trí tuệ;
Ba: tư cách cúng dường các bậc nên cúng dường.
Cả ba điều ấy là hạnh phúc cao thượng.

2)
Một: tư cách ở trong nước nên ở.
Hai: tư cách của người đã làm được việc lành để dành khi trước.
Ba: nết hạnh giữ mình theo lẽ chánh.
Cả ba điều ấy là hạnh phúc cao thượng.

3)
Một: nết hạnh của người được nghe nhiều, học rộng,
Hai: sự suốt thông phận sự của người xuất gia và tại gia,
Ba: điều học mà người đã thọ trì được chính chắn,
Bốn: lời mà người nói ra được ngay thật,
Cả bốn điều ấy là hạnh phúc cao thượng.

4)
Một: nết hạnh phụng sự Mẹ.
Hai: nết hạnh phụng sự Cha,
Ba: sự tiếp độ vợ con,
Bốn: những nghề chẳng lẫn lộn nghiệp dữ.
Cả bốn điều ấy là hạnh phúc cao thượng.

5)
Một: nết hạnh bố thí.
Hai: nết hạnh ở theo Phật pháp.
Ba: sự tiếp độ quyến thuộc,
Bốn: những nghề vô tội,
Cả bốn điều ấy là hạnh phúc cao thượng,

6)
Một: nết hạnh ghê sợ và tránh xa tội lỗi,
Hai: sự thu thúc để tránh khỏi sự uống rượu
Ba: sự không dễ duôi Phật pháp.
Cả ba điều ấy là hạnh phúc cao thượng.

7)
Một: sự tôn kính bậc nên tôn kính,
Hai: nết hạnh khiêm nhường,
Ba: tri túc đến của đã có,
Bốn: nết hạnh biết ơn người,
Năm: nết hạnh tùy thời nghe pháp,
Cả năm điều ấy là hạnh phúc cao thượng.

8)
Một: sự kham nhẫn,
Hai: nết hạnh người dễ dạy,
Ba: nết hạnh được thấy các bậc Sa môn,
Bốn: nết hạnh biện luận về Phật pháp,
Cả bốn điều ấy là hạnh phúc cao thượng.

9)
Một: sự cố gắng đoạn tuyệt điều ác,
Hai: nết hạnh hành theo pháp cao thượng,
Ba: nết hạnh thấy các pháp diệu đế,
Bốn: nết hạnh làm cho thấu rõ Niết Bàn.
Cả bốn điều ấy là hạnh phúc cao thượng.

10)
Một: tâm không xao động vì pháp thế gian,
Hai: không có sự uất ức,
Ba: dứt khỏi tình dục,
Bốn: lòng tự tại,
Cả bốn điều ấy là hạnh phúc cao thượng.

Tất cả chư Thiên và nhân loại, nếu được thật hành theo những điều hạnh phúc như thế, là người thắng quá trong mọi nơi, thì hằng được hạnh phúc trong mọi nơi. Chư Thiên này! Các người nên tin rằng cả ba mươi tám điều hạnh phúc ấy là hạnh phúc cao thượng.
(Kinh Nhật Tụng Của Cư Sĩ - Tỳ Kheo Tăng Định hợp soạn) 

Chủ Nhật, 9 tháng 3, 2014

Kệ Rải Tâm Từ




Kệ Rải Tâm Từ

1. Aham avero homi
abyãpajjho homi
anĩgho homi
sukhĩ-attãnam pariharãmi

2.  Mama mãtãpitu
ãcariya ca nãtimittã ca
sabrahmã-carino ca
Averã hontu
abyãpajjhã hontu
anĩgha hontu
sukhĩ-attãnam pariharantu.

3. Imasmim ãrãme sabbe yogino
averã hontu
abyãpajjhã hontu
anĩgha hontu
sukkhĩ-attãnam pariharantu.

4. Imasmim ãrãne sabbe bhikkhu
sãmanera ca
upãsaka-upasikãyo ca
averã hontu
abyãpajjhã hontu
anĩgha hontu
sukkhĩ-attãnam pariharantu

5. Amhãkam catupaccaya-dãyakã
averã hontu
abyãpajjha hontu
anĩgha hontu
sukkhĩ-attãnam pariharantu

6. Amhãkam ãrakkha devatã
imasmim vihãre
imasmim ãvãse
imasmim ãrãme
ãrakkha devatã
averã hontu
abyãpajjhã hontu
anĩgha hontu
sukkhĩ-attãnam pariharantu

7. Sabbe sattã
sabbe pãnã
sabbe  bhũta
sabbe puggalã
sabbe attabhãva-pariyãpannã
sabba itthiyo
sabbe purisã
sabbe ariyã
sabbe anariyã
sabbe devã
sabbe manussã
sabbe vinipãtikã.
 averã hontu
abyãpajjhã hontu
anĩgha hontu
sukkhĩ-attãnam pariharantu

8. Dukkhã muccantu
Yatha-laddha-sampattito mavigacchantu
Kamassakã
Puratthimãya disãya
pacchimãya disãya
uttarãya disãya
dakkhinãya disãya
puratthimãya anudisãya
pacchimãya anudisãya
 uttarãya anudisãya
dakkhinãya anudisãya
hetthimãya disãya
uparimãya disãya.

9. Sabbe sattã
sabbe pãnã
sabbe  bhũta
sabbe puggalã
 sabbe attabhãva-pariyãpannã
sabba itthiyo
sabbe purisã
sabbe ariyã
 sabbe anariyã
sabbe devã
sabbe manussã
sabbe vinipãtikã.
averã hontu
abyãpajjhã hontu
anĩgha hontu
sukkhĩ-attãnam pariharantu

10.  Dukkhã muccantu
Yatha-laddha-sampattito mavigacchantu
Kamassakã
Uddham yãva bhavaggã ca
adho yãva avĩccito
samantã cakkavãlesu
ye sattã pathavĩ-carã
abyãpajjha niverã ca
niddukkhã ca nupaddavã
Uddham yãva bhavaggã ca
adho yãva avĩccito
samantã cakkavãlesu
ye sattã udakecarã
abyãpajjha niverã ca
niddukkhã ca nupaddavã
Uddham yãva bhavaggã ca
adho yãva avĩccito
samantã cakkavãlesu
ye sattã akãsecarã
abyãpajjha niverã ca
niddukkhã ca nupaddavã

11. Imãya dhammã nudhammapatipattiyã
Budham pũjemi
Imãya dhammã nudhammapatipattiyã
Dhamam pũjemi
Imãya dhammã nudhammapatipattiyã
Sangham pũjemi
Imãya dhammã nudhammapatipattiyã
mãtãpitaro pũjemi
Imãya dhammã nudhammapatipattiyã
ãcariye pũjemi
Addhã imãya
patipadãya
jarãmaranamhã
parimusisãmi
Idam me pũnnam
ãsavakkhayãvaham hotu
Idam me pũnnammagga-phala
nãnassa paccayo hotu

12. Idam no pũnna-bhãgam
sabbasattãnam dema
Sabbe sattã sukhitã hontu
Sadhu!Sadhu!Sadhu

Dịch Việt:

1. Nguyn cho con thoát được mi oan trái, tâm không phiền não, thân không đau đn, thân tâm được an lc.

2. Nguyn cho ba m,thy t, bà con, bn bè và đo hu thoát khi mi oan trái, tâm không phin não, thân không đau đn, gi gìn thân tâm được an lc.

3. Nguyn cho tt c thin sinh nơi đây thoát khi mi oan trái, tâm không phin não, thân không đau đn, gi gìn thân tâm được an lc.

4. Nguyn cho tt c chư tăng, sa di nam và n cư nơi đây thoát khi mi oan trái, tâm không phiên não, thân không đau đn, gi gìn thân tâm được an lc.

5. Nguyn cho tt c thí ch cúng dường t vt dng, thoát khi mi oan trái, tâm không phin não, thân không đau đn, gi gìn thân tâm được an lc.

6. Nguyn cho tt c chư thiên h trì tu vin này, h trì nơi trú ng này, h trì khu vc này, các chư thiên h trì thoát khi mi oan trái, tâm không phiên não, thân không đau đn, gi gìn thân tâm được an lc.

7. Nguyn cho tt c chúng sanh, các loài có hô hp, các loài đng vt, các loài sinh vt, nguyn cho tt c các loài có thân và tâm, tt c n gii, tt c nam gii, tt c bc thánh, nguyn cho người phàm, cho chư  thiên, cho loài người và chúng sanh trong bn cõi kh thoát khi mi oan trái, tâm không phiên não, thân không đau đn, gi gìn thân tâm được an lc, hết kh đau, không b tước đot hnh phúc đã có.

8. Mi chúng sinh là ch nhân ca nghip do mình to ra nơi hướng đông, nơi hướng tây, nơi hướng bc, nơi hướng nam, nơi hướng đông nam, nơi hướng tây bc, nơi hướng đông bc, nơi hướng tây nam, nơi hướng dưới, nơi hướng trên. Nguyn cho tt c chúng sanh, các loài có hô hp, các loài đng vt, các loài sinh vt. Nguyn cho tt c các loài có thân và tâm, tt c n gii, tt c nam gii, tt c bc thánh. Nguyn cho người phàm, chư  thiên, loài người và chúng sanh trong bn cõi kh thoát khi mi oan trái, tâm không phiên não, thân không đau đn, gi gìn thân tâm được an lc, hết kh đau, không b tước đot hnh phúc đã có.

9. Mi chúng sinh là ch nhân ca nghip do mình to ra xa đến cõi cao nht, xung đến cõi thp nht trong toàn th vũ tr, tt c chúng sanh đi trên đt được thoát khi phin não và thù hn tránh được đau đn và him nguy. Xa đến cõi cao nht, xung đến cõi thp nht trong toàn th vũ tr, tt c chúng sanh sng trong nước được thoát khi phin não và thù hn tránh được đau đn và him nguy. Xa đến cõi cao nht, xung đến cõi thp nht trong toàn th vũ tr, tt c chúng sanh trong không gian được thoát khi phin não và thù hn, tránh được đau đn và him nguy.

10. Bng s thc hành đúng chánh pháp con xin cúng dường Đc Pht. Bng s thc hành đúng chánh pháp, con xin cúng dường Pháp Bo. Bng s thc hành đúng chánh pháp, con xin cúng dường Tăng Bo. Bng s thc hành đúng chánh pháp con xin cúng dường ba m. Bng s thc hành đúng chánh pháp, con xin cúng dường thy tổ.

11. Vi vic hành thin này, nguyn cho con thoát khi s kh ca già và chết. Nguyn cho nhng phước lành ca con dn đến s tn dit nhng lu hoc. Nguyn cho gii đc (trong sch) ca con s là duyên lành dn đến Đo và quả.

12. Chúng con xin hi hướng phước báu này đến tt c chúng sanh. Nguyn cho tt c chúng sanh được an vui.

Lành thay! Lành thay! Lành thay!

(Bn dch Vit ng ca thin vin Phước Sơn)