Thứ Sáu, 20 tháng 11, 2015

TÂM CUNG KÍNH - BÌNH THƯỜNG HÓA MỌI THỨ


TÂM CUNG KÍNH
BÌNH THƯỜNG HÓA MỌI THỨ

Giảng vào ngày 11/5/14
Phiên tả: An Long Minh


Người đem tâm cung kính
Mà phụng sự chúng sinh
Bằng chuyển hóa khổ đau,
Bằng giải trừ địa ngục,
Đây có thể gọi là
Biết cúng dường Địa Tạng.

Người đem tâm cung kính
Mà cúng dường chúng sinh
Bằng tâm từ, tâm bi,
Bằng tình thương vô lượng,
Đây có thể gọi là
Biết cúng dường Quán Âm.

Người đem tâm cung kính
Mà hành trì chánh pháp
Bằng thu nhiếp thân tâm
Đến giải thoát tận cùng,
Đây có thể gọi là
Biết cúng dường Chư Phật.
           
Tâm cung kính là tâm hết sức khiêm nhường. Khi mình thực tập, một trong những hạnh phải thực tập là hạnh khiêm cung. Hạnh khiêm cung giúp mình sẵn sàng lắng nghe tất cả mọi người và từ việc lắng nghe đó, mình có thể học được dù ít dù nhiều từ đối tượng A, đối tượng B, từ vị thầy này, vị thầy kia, từ bậc thiện tri thức này, bậc thiện tri thức kia. Cái ngã mạn, cái tôi trong mình sẽ từ từ chuyển hóa. Thật ra không có gì gọi là ngã, không có gì gọi là tôi, tất cả chỉ là ý niệm. Do tham chấp mà nó biểu hiện ra và mình cho nó là ngã và mình cho nó là tôi. Ví dụ mình cho rằng thân này là mình, là của mình nên mình cung phụng và đòi hỏi sự hưởng thụ cho thân này rất nhiều. Chính vì thế, việc thực tập bị giảm dần và đi thụt lùi, mình không đi hướng lên mà lại đi hướng xuống. Có thể lắng nghe được tất cả mọi người thì mình sẽ có đời sống rất khiêm hạ, mình không cần phải cho mình là số một, cho mình đi lên đỉnh cao. Mình không cần phải là người giỏi nhất, không cần phải là hàng “top ten”, không cần là một ngôi sao. Mình chỉ có thể là một hòn sỏi ở trên đường thôi. Nhưng hòn sỏi đó có thể lót đường cho nhiều người đi và người ta không bị té, người ta không bị bùn nhơ dính khi đi trên con đường lầy lội. Hoặc mình chỉ cần là một bông hoa nhỏ trên đường. Ví dụ nhà văn Nguyễn Nhật Ánh có cuốn sách với tựa đề là “Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh”. Cuốn sách có tựa đề rất giản dị. Nhiều khi mình chỉ cần là một hoa vàng nhỏ bé trên bãi cỏ xanh như vậy, nhưng lại cống hiến cho sự sống rất nhiều.

Sự thực tập mặc dù còn nhỏ bé nhưng có thể đóng góp phần nào vào sự bình an của mình. Và chính sự bình an đó giúp cho vạn vật xung quanh được bình an. Vì bình an có năng lượng của sự lan tỏa. Cũng vậy, giận dữ cũng có sức lan tỏa. Khi giận dữ, mình sẽ truyền năng lượng nóng đó ra xung quanh và nóng ấm toàn cầu. Người ta cho rằng: nóng ấm toàn cầu là do sản xuất và các nhà máy thải khí CO2 vào trong tầng khí quyển. Tầng khí quyển tạo ra hiệu ứng nhà kính và nhiệt độ của địa cầu nóng lên. Nhưng mà nguyên nhân sâu xa của việc sản xuất đó là gì? Bởi vì tiêu thụ quá mức nên phải sản xuất nhiều. Sản xuất nhiều mà không tôn trọng môi trường thì sẽ gây hại cho môi trường. Một người nóng giận cũng vậy, nhiệt độ cơ thể gia tăng và năng lượng nóng bên trong người đó và xung quanh người đó cũng gia tăng theo, tỏa một sức nóng vào môi trường. Và nếu như một đám đông đang nổi giận, thì cái nổi giận đó có thể dẫn đến chiến tranh.

Tâm cung kính không chỉ đơn thuần là tôn trọng một đối tượng nào đó. Ví dụ mình nói là “cung kính Phật”, không chỉ đơn thuần là tôn trọng Phật, tán thán Phật, ngưỡng mộ Phật, quay về nương tựa Phật, mà còn có nghĩa là phải khiêm hạ. Lúc nào cũng sẵn sàng lắng nghe, học hỏi hành trì miên mật. Bởi vì sự hành trì của mình không bao giờ là đủ. Không phải mình thực tập hết 16 bài thiền tuệ là giỏi mà phải hiểu rằng nhiều người chỉ mới thực tập bài số 1 đã có thành tựu. Nguyên nhân là họ đã tu thiền rất nhiều kiếp trước đó và phước báu rất lớn nên kiếp này chỉ còn chờ thêm chút xíu nữa thôi. Ngồi nghe Đức Phật giảng pháp là người đó có thể đắc đạo Tu Đà Hoàn. Mình đọc kinh không thể hiểu được tại sao có những người ngồi nghe Đức Phật giảng một thời pháp, người đó đã đắc đạo Tu Đà Hoàn. Bây giờ mình biết họ đã tu hằng hà sa số kiếp trước đó và chỉ cần thêm một ít công đức nữa thôi. Bài pháp của Đức Phật là sự trợ duyên để giúp họ thành tựu.

Phụng sự chúng sinh là phụng sự Đức Phật, phụng sự chính mình. Mà cách phụng sự chúng sinh hay nhất là tu tập. Mình thực tập thiền tuệ, thực tập giữ giới, thực tập duy trì định, thực tập duy trì phát triển tuệ, thì lúc đó năng lượng Phật trong mình ngày càng tăng trưởng và năng lượng chúng sinh trong mình giảm dần đi hoặc được chuyển hóa. Trong chúng sinh có năng lượng Phật trong đó. Mình hay để cho năng lượng chúng sinh dày đặc, sâu dày ở trong thân và trong tâm cho nên không thấy được năng lượng Phật đang rất mềm mại, rất dễ thương, đang rất từ bi, đang rất mầu nhiệm ở trong thân và trong tâm. Hạnh của Địa Tạng là hạnh phụng sự chúng sinh, một người mà lúc nào cũng đem cái tâm, đem cái thân phụng sự chúng sinh. Một người làm như vậy là đang thực tập hạnh Địa Tạng. Thực tập hạnh Địa Tạng xuyên suốt, người đó chính là Bồ tát Địa Tạng. Bồ tát Địa Tạng không phải là một ông cầm một cái gậy đứng trước cửa địa ngục mà lúc nào cũng canh me đập tan cái địa ngục đó. Như vậy là kẹt vào tướng. Địa Tạng là một phương tiện.

Địa là đất. Thực tập hạnh của đất là thực tập hạnh Địa Tạng. Hạnh của đất là gì? Dù người ta trồng hoa thơm cỏ lạ, trồng hoa màu, các loại thảo mộc thì đất vẫn tiếp nhận. Nếu người ta quăng rác rưởi hôi thối vào trong đất, người ta khạc nhổ, rồi người ta làm ô nhiễm đất thì đất vẫn chấp nhận, đó là hạnh của đất. Hạnh của đất là chấp nhận những thứ thanh tịnh lẫn những thứ bất tịnh. Người tu không phải là đi tầm cầu những cái thanh tịnh mà ghét bỏ bất tịnh, mà mình bình thường hóa mọi thứ. Mình bình thường hóa bất tịnh và bình thường hóa thanh tịnh. Phải hiểu nguyên nhân vì đâu nó thanh tịnh, vì đâu nó bất tịnh. Ngăn ngừa tất cả những nguyên nhân đó thì không có gì gọi là thanh tịnh và cũng không có gì gọi là bất tịnh nữa. Mình không còn kẹt vào ý niệm gọi là thanh tịnh, cũng không kẹt vào ý niệm gọi là bất tịnh.

Địa ngục không phải là một cõi như chúng ta thường nghĩ tới. Nó không phải là nơi có những tên đầu trâu mặt ngựa hoặc là những tên quỷ sứ cầm thanh sắt nóng dụi lên người bị đọa. Địa ngục thực ra là sự biểu hiện do tâm địa ngục mà ra. Tâm ô nhiễm thì môi trường ô nhiễm biểu hiện ra, hoặc là tấm thân ô nhiễm biểu hiện ra. Địa ngục ở đây là tập hợp của những khổ đau. Cho nên muốn giải trừ địa ngục phải chuyển hóa những khổ đau đang mắc phải. Chuyển hóa khổ đau không phải là trốn chạy khổ đau. Ví dụ như mình ở một nơi mọi người lúc nào cũng ăn hiếp mình, bắt nạt mình thì mình chuyển hóa khổ đau bằng cách trốn khỏi chỗ đó. Đây không phải là chuyển hóa khổ đau. Chuyển hóa khổ đau là nhìn ra được nguyên nhân của khổ đau là gì, tại sao mình khổ. Mình khổ có phải vì người đó nói những lời nghe chói tai hay không. Hay là do tâm chưa chấp nhận được và mình chưa bình thường hóa được tất cả những lời nói dễ chịu hay khó chịu. Nỗi khổ không phải do người A hay người B mang tới, thông thường những khổ đau do tự thân trong mình phát triển ra. Có thể là do nghiệp, có thể do mình đã hun đúc những nguyên nhân dẫn tới khổ đau đó, có thể là do mình chưa nhận diện được nguyên nhân và có thể là do mình không biết cách để chuyển hóa khổ đau. Khổ đau cứ thế mà xây nhà cao tầng.

Đập tan địa ngục có nghĩa là chuyển hóa, chấm dứt tâm địa ngục trong mình. Và đập tan địa ngục chính là chuyển hóa địa ngục và những khổ đau đang đầy dẫy ở trong mình. Khổ đau phát khởi thì hãy thực tập để chuyển hóa khổ đau đó và đừng để khổ đau đó tái diễn ra nữa, đừng để cho địa ngục tái diễn ra nữa. Ví dụ một người biết là uống nước đá, nước lạnh hoặc ăn kem, ăn kẹo, đồ ngọt quá nhiều mà không đánh răng kĩ càng thì răng sẽ bị hư. Mình chữa răng rồi mình lại đi tìm kiếm những món đó. Răng bị hư hư nữa và răng mình bị nhức, bị đau, bị sâu tiếp. Khổ đau xuất hiện trở lại, địa ngục biểu hiện trở lại. Những người bị bệnh ung thư phải chịu đau đớn ngày đêm, những người đó đang sống trong địa ngục. Năm 2014, người dân Ucraina lúc nào cũng sống trong nơm nớp lo sợ, lo sợ nội chiến, lo sợ chiến tranh, lo sợ chết chóc. Họ đang sống trong địa ngục.

 Một người đem tâm cung kính để chuyển hóa tính chúng sinh trong mình, chuyển hóa phiền não, chuyển hóa khổ đau, buông bỏ tâm bất thiện lúc nào cũng phát khởi lên, giải trừ hoàn toàn địa ngục, giải trừ những tâm đòi hỏi tạo nghiệp ác, thì người này biết cách cúng dường Địa Tạng. Cúng dường Địa Tạng không phải là dâng hoa, dâng hương hoặc là ngồi tụng Kinh Địa Tạng mà cúng dường Địa Tạng là thực tập hạnh Địa Tạng. Thực tập hạnh Địa Tạng tức là cúng dường Địa Tạng. Người có thể đi vào những nơi hiểm nạn nhất mà vẫn có thể làm việc, vẫn có thể thực tập, vẫn có thể giúp đỡ chúng sinh, thì đó là Địa Tạng, là cúng dường Địa Tạng. Vị đó chính là một vị Địa Tạng. Ví dụ những người đi vào trại phong để chăm sóc những bệnh nhân phong, biết rằng có thể nhiễm bệnh, nếu bị bệnh rồi có thể bị người thân, gia đình, bạn bè ghét bỏ nhưng mà họ vẫn cứ đi vào trại phong như thế để chăm sóc những bệnh nhân phong và không xá gì thân mạng của mình, không xá gì sức khỏe của mình. Đây là những vị Địa Tạng, sẵn sàng đi vào nơi khó khăn nhất để thực tập.

Thầy Phú Lâu Na cũng là một vị Địa Tạng. Thầy đi vào những nơi mà người dân rất dữ dằn, hành xử rất côn đồ, có thể bị đánh đập, có thể bị chém giết, có thể bị lấy mạng sống. Nhưng thầy vẫn chấp nhận, sẵn sàng xung phong đi vào nơi như thế để giáo hóa và cứu độ chúng sinh. Với suy nghĩ như vậy, thầy Phú Lâu Na xứng danh là một Địa Tạng.

Người đem tâm cung kính mà lắng nghe chúng sinh bằng tâm từ, tâm bi, bằng tình thương vô lượng, có thể được gọi là biết cúng dường Quán Âm. Niệm "Nam mô Bồ Tát Quán Thế Âm", không phải mình kêu Bồ Tát đến cứu mình mà để nhắc nhở mình thực tập hạnh Bồ Tát Quán Thế Âm. "Quán Thế Âm" là quán chiếu âm thanh, cho dù âm thanh đó là âm thanh khó chịu, hay là âm thanh dễ chịu, mình vẫn cứ lắng nghe bằng một tâm từ, tâm bi. Mà tâm từ, tâm bi chưa đủ, mình phải thực tập tâm đại từ, tâm đại bi. Lắng nghe chúng sinh không mệt mỏi và bằng tình thương vô lượng, có nghĩa là tình thương không biên giới, một trái tim không biên giới. Tất cả mọi thứ mình đều ôm vào lòng, ôm cả Trung Quốc, ôm cả những người đứng đầu chính phủ Trung Quốc. Mình ghét tội lỗi chứ không ghét người gây ra tội lỗi. Tội lỗi là đáng ghét, người gây ra tội lỗi đáng thương hơn là đáng trách, bởi vì họ đang bị sai sử bởi tâm tham. Sắc pháp của họ đã bị những sở hữu tâm bất thiện sai sử. Những sở hữu tâm bất thiện không thể tự hành động được nên phải nương nhờ vào sắc pháp để hành động. Nó nương nhờ vào ông tên như thế này, nương vào bà tên như thế này, phải nương vào giàn khoan, nương vào tàu chiến, tàu gây hấn, máy bay để làm thỏa mãn sở hữu tâm bất thiện đó.

Mình học nhân quả, biết là người nào gieo những nhân gì thì sẽ nhận những quả đó. Thậm chí những quả đó còn mạnh hơn rất nhiều lần. Nói "gieo nhân gì gặp quả nấy" thì đúng nhưng chưa đủ, phải nói là "gieo nhân gì sẽ gặp hằng hà sa số quả nấy". Ví dụ tại sao một tên cướp của giết người, nếu nói "gieo nhân nào gặp quả nấy" thì sẽ đền mạng, giết một mạng người đền một mạng người, thì điều này không đủ. Giết một mạng người phải đền hằng hà sa số mạng. Tại sao vậy? Một người mang trong mình yếu tố của ba mẹ, yếu tố của ông bà, của tổ tiên, mà ba mẹ là hằng hà sa số ba mẹ, ông bà là hằng hà sa số ông bà, tổ tiên là hằng hà sa số tổ tiên trong người đó, chưa kể người đó đã từng tu tập, yếu tố Phật đang trỗi dậy trong lòng người đó. Nếu như tình thương của người đó rải khắp nơi mà mình giết một mạng người có tình thương rải khắp nơi thì tên cướp giết người này phải trả hằng hà sa số kiếp ở cõi địa ngục, không biết bao giờ mới ra. Hoặc là ông Angolimala đã giết 999 người, thế thì tại sao ông ấy không đền 999 mạng mà ông ta chỉ bị chửi rủa, đánh đập, bị ghét bỏ? Đó là nhờ công tu tập của ông ấy. Quả vị A La Hán và năng lượng tu tập đã giúp cho ông ấy chuyển hóa hầu như toàn bộ nghiệp sát sinh. Ông ta chỉ bị đánh đập và chỉ bị chửi rủa thôi.

Một tình thương rải đi, hằng hà sa số chúng sinh ở mười phương được hưởng và công đức của người thực tập rải tâm từ lớn không biết bao nhiêu mà kể. Cũng vậy, một người rải đi tâm bất thiện thì tội cũng nặng không biết bao nhiêu mà kể. Mình không cần đi biểu tình, vì lúc đi biểu tình, trong tâm mình là tâm sân đầy dẫy trong đó. Lắng nghe bằng tâm từ và tâm bi, và vì thương mà lắng nghe, vì cảm thương vô bờ mà lắng nghe, vì thấu hiểu được nỗi khổ của chúng sinh mà lắng nghe. Bất cứ chúng sinh nào, bất cứ người nào thực tập hạnh lắng nghe từ đầu cho tới cuối, thực tập hạnh lắng nghe không mệt mỏi, đem tâm từ và tâm bi ra mà lắng nghe, thì người đó chính là Bồ Tát Quán Thế Âm không sai khác.

Chúng ta ai cũng có khả năng lắng nghe như vậy. Nếu như thực tập lắng nghe bằng tâm từ, tâm bi thì mình vẫn có thể là một vị Bồ tát Quán Thế Âm và năng lượng Bồ tát Quán Thế Âm sẽ trỗi dậy trong mình. Có một người đàn ông chạy xe gắn máy đang đi giữa đường thì bị bể bánh xe. Ông ta đã dẫn xe đi xa một đoạn rồi mà vẫn không thấy tiệm sửa xe nào, cho nên ông ta vừa đi vừa niệm Bồ tát Quán Thế Âm. Đi được một đoạn thì ông ta thấy tiệm sửa xe. Sau khi vá xe xong thì ông vá xe xin tiền vá xe. Người này đưa tay vào túi mới thấy là mình quên mang bóp tiền nên mới đưa lời xin lỗi ông vá xe, xin hẹn lại hôm sau đi lại con đường này sẽ trả tiền cho ông vá xe. Trong lòng ông rất lo lắng không biết ông vá xe có la mắng hay từ chối hay không. Không ngờ ông vá xe cười xí xóa và nói, Được rồi, ngày mai ông có thể trở lại và trả tiền cũng được, ông đi đi, ông đi làm công việc của ông đi. Người xe bị hỏng mới chạy xe đi, trong lúc đi ông mới nghĩ là niệm Bồ tát Quán Thế Âm có thấy Bồ tát Quán Thế Âm đâu, chỉ thấy ông sửa xe thôi, như vậy là Bồ tát Quán Thế Âm đâu có linh. Ông này bị kẹt vào tướng. Nhìn bằng đôi mắt vô tướng thì sẽ thấy ông vá xe chính là Bồ tát Quán Thế Âm. Tâm thiện lành phát khởi khi niệm Bồ tát Quán Thế Âm mà có duyên gặp ông vá xe và do quên mang tiền, ông ấy cũng xí xóa cho mình để bữa khác đem tới trả tiền cũng được. Ông vá xe chính là một vị Bồ tát Quán Thế Âm.

Trong gia đình, mình ngoan ngoãn thì người đó thương mình, không ngoan ngoãn, hư hỏng nhưng người đó vẫn cứ thương mình. Mình có hạnh phúc thì người đó vui với hạnh phúc của mình. Mình khổ đau, người đó thông cảm và chia sẻ. Người đó là ai? Là những người ba, những người mẹ trong gia đình. Ba mẹ chính là những vị Bồ tát Quán Thế Âm. Ba mẹ là người thật, việc thật, những vị Bồ tát Quán Thế Âm còn sống. Có một câu chuyện gọi là “Quan Âm tóc rối”, người ta cứ đi tìm những vị Bồ tát Quán Thế Âm bằng những hình tướng, bằng những câu chuyện, bằng những bức tượng, bằng những tranh ảnh. Cuối cùng ta mới nhận ra ba mẹ chính là Bồ tát, có mặt trong đời mình để cứu rỗi những đứa con vẫn còn lầm lạc, vẫn còn đi sai đường mà mình không biết, mình lo đi chạy tới những nơi xa lắc để tìm kiếm những vị Bồ tát ở trên mây. Trong đời sống thực, những vị lắng nghe bằng tình thương hết mực, những vị đó là những vị Phật, những vị Bồ tát mà mình cần phải đem tâm cung kính để cúng dường. Một người biết lắng nghe, biết thực tập tâm đại từ đại bi, biết thực tập kham nhẫn, thì vị đó là Bồ tát Quán Thế Âm và vị đó đang thực tập để cúng dường Bồ tát Quán Thế Âm. Cúng dường bằng thực tập như vậy gọi là cúng dường cao thượng. Lễ Phật Đản, để cúng dường cho đức Phật hay nhất là mình hãy đem tâm tu ra mà cúng dường chư Phật. Không có gì hay bằng đem tâm tu cúng dường chư Phật cả. Tâm tu đó không thể tính bằng tiền, không thể tính bằng những giá trị vật chất, bởi vì tâm tu của một người tu là vô lượng, là hết sức đẹp đẽ, là một trang sức nguy nga tráng lệ nhất mà không có một tài sản, không có một giá trị vật chất nào có thể đo lường được.

Thực tập thiền quán tính không đáng dính mắc, không đáng tham cầu của ngôi nhà, của chiếc xe, của danh vọng cho tới khi nào mình chứng được tuệ giác là: tất cả vật chất đó là không còn đáng dính mắc, không còn đáng tham cầu nữa. Tâm sẽ buông bỏ, không còn dính mắc vào tài sản, vật chất và tiện nghi tinh thần. Lúc này, mình sẽ an nhiên, không bị dục nào lôi kéo được nữa. Hãy đem năm dục ra mà quán, để thấy được là năm dục không đáng để dính mắc và không đáng tham cầu. Xin chia buồn cho tất cả những người đi vào con đường của năm dục và xin chúc mừng tất cả những người buông bỏ năm dục.

Người đem tâm cung kính mà hành trì chánh pháp bằng thu nhiếp thân tâm đến giải thoát tận cùng, đây có thể gọi là biết cúng dường chư Phật. Chánh niệm là Bụt hay chánh niệm là Phật. Thực tập chánh niệm tức là đang thu nhiếp thân tâm, đem tâm trở về với thân và nhận diện những gì đang diễn ra bên trong, bên ngoài thân tâm, không để bị kẹt vào hoàn cảnh. Sử dụng Tứ niệm xứ thực tập thu nhiếp thân tâm cho đến khi thân tâm nhất như. Thân và tâm là một thì có thể theo dõi tâm đang suy nghĩ cái gì, đối tượng suy nghĩ có đi về hướng của bất thiện hay không, thân có đi về hướng bất thiện hay không. Thân còn đòi hỏi sự hưởng thụ thì vẫn còn ngụp lặn trong năm dục, lúc này bể khổ, địa ngục, phiền não chắc chắn còn khởi ra, bệnh tật và đau đớn trong thân và trong tâm chắc chắn sẽ còn xảy ra.

Hãy thực tập giải thoát đến tận cùng, hãy làm cho những tế bào của thân, những tế bào của tâm giải thoát hết. Mà giải thoát ở đây là giải thoát gì? Giải thoát tất cả những dính mắc vào việc hưởng thụ dục lạc, giải thoát tất cả ý niệm mà khiến cho tà hạnh tăng trưởng trong việc hưởng thụ dục lạc. Giải thoát cho đến khi không còn gì để mà giải thoát nữa, thì đó là giải thoát tận cùng, giải thoát một cách triệt để. Tu tập không phải để lấy bằng tiến sĩ hay lên hàng giáo phẩm nào đó mà mục tiêu tối thượng của người tu là giải thoát. Trước khi hành thiền, hãy nguyện là “Con xin nguyện thực tập giải thoát ngay trong phút giây hiện tại này và con xin nguyện giải thoát đến tận cùng”. Thực tập giải thoát và đã thực sự giải thoát là biết cúng dường chư Phật.

Niết Bàn không phải là cõi mà là tự tính. Tự tính của vạn pháp. Tất cả các pháp đều có Niết Bàn. Ví dụ không sinh, không diệt, là trí tuệ Bát Nhã. Người chứng được trí tuệ Bát Nhã thì tiếp xúc được với Niết Bàn. Tâm của người đó đã hoàn toàn thanh tịnh, không có một vết nhơ, không còn khởi lên pháp bất thiện, hoàn toàn vô lậu. Đây là tâm Niết Bàn. Tâm Niết Bàn thì Niết Bàn sẽ biểu hiện ra. Thực tập Phật Giáo mà nói về cõi Niết Bàn, cõi Tịnh Độ thì đó là cõi ma. Tịnh Độ và Niết Bàn không phải là cõi mà là tự tính, tự tính Tịnh Độ, tự tính Niết Bàn. Thực tập để khám phá, để tìm về tự tính. Tự tính của vạn pháp là Niết Bàn - là không sinh, không diệt, không dơ, không sạch, không thành, không bại, không tới, không đi thì mình tầm cầu cái gì nữa. Tại sao còn tầm cầu? Mình chưa thể là người vô sự bởi vì tầm cầu quá mức, khổ đau càng sâu dày. Bộ mặt thật của những đối tượng mình tầm cầu là sự mỹ miều của khổ đau. Khổ đau có vẻ hào nhoáng bên ngoài, mang dáng vẻ của mỹ miều, của hào nhoáng. Ví dụ, mình chạy theo sắc dục, thường sắc dục trá hình bằng thân thể đẹp đẽ, bằng mùi hương quyến rũ, bằng mùi vị ngon ngọt, bằng xúc chạm dễ chịu, bằng những pháp rất hay, rất thú vị. Nhưng đó chỉ là vẻ hào nhoáng bên ngoài. Kẹt vào vẻ hào nhoáng đó thì kẹt vào thế giới ảo không có thực.

Ảo đồng nghĩa với phiền não, phiền não dẫn tới khổ đau. Giống như có người thích ngắm nhìn mình ở trong gương, giống như mụ phù thủy trá hình là hoàng hậu. Hỏi, "Gương kia ngự ở trên tường, thế gian này ai đẹp dường như ta?", thì gương trả lời, "Trên thế gian này hoàng hậu là người đẹp nhất", và mụ phù thủy tự mãn về vẻ đẹp của mình. Mụ phù thủy có tâm phù thủy trổ ra thì thân hình càng ngày càng xấu xí đi và bà ấy đã sử dụng phép thuật làm cho thân hình đẹp đẽ trở lại. Mụ lại hỏi, "Gương kia ngự ở trên tường, thế gian này có ai đẹp như ta?". Lúc này, nàng Bạch Tuyết đã trở thành thiếu nữ và vẻ đẹp của nàng rất trong trắng, tinh khôi nên gương mới nói rằng, "Trên thế gian này hoàng hậu là người đẹp nhưng nàng Bạch Tuyết muôn phần đẹp hơn". Sau này, nàng Bạch Tuyết già đi, thế gian sẽ xuất hiện nàng Bạch Tuyết khác nữa và nàng Bạch Tuyết phiên bản mới này sẽ còn muôn phần đẹp hơn phiên bản cũ. Nếu nàng Bạch Tuyết phiên bản cũ không lo tu tập và trong tâm phát khởi lên tâm phù thủy và ganh tỵ với nàng Bạch Tuyết phiên bản mới thì tâm phù thủy sẽ biến nàng Bạch Tuyết thành mụ phù thủy. Sắc thân sẽ tàn hại đi một cách nhanh chóng, sắc thân phù thủy biểu hiện.

Câu chuyện "Nàng Bạch Tuyết và bảy chú lùn" không đơn thuần đề cập cái thiện sẽ thắng cái ác mà còn nói đến tâm ganh tỵ ở trong đó. Tâm ganh tỵ khiến người ta tác ý cho những tội lỗi và làm cho những tội lỗi biến thành sự thật và nghiệp cứ thế trổ ra. Kết quả của nghiệp là gì? Là mụ phù thủy sẽ bị đọa và nàng Bạch Tuyết sẽ hạnh phúc mãi về sau. Câu chuyện nàng Bạch Tuyết hạnh phúc mãi về sau thì có hạnh phúc hay không khi chàng hoàng tử thương nàng Bạch Tuyết ở hình tướng là tóc đen như gỗ mun, môi đỏ như son và da trắng như tuyết. Vài chục năm sau tóc nàng không còn đen nữa, môi nàng không còn đỏ nữa và da nàng đã sần sùi không còn trắng như tuyết nữa thì chàng hoàng tử năm xưa có còn thương nàng nữa không, hay chàng tìm kiếm những nàng Bạch Tuyết mới, có sắc đẹp mang dáng vẻ của công nghệ. Lúc này, nàng Bạch Tuyết phiên bản cũ sẽ đi Hàn Quốc giải phẫu thẫm mỹ để có nhan sắc đẹp đẽ, sẽ đi tắm trắng để da trắng trở lại, đi xăm môi cho môi đỏ trở lại, sẽ đi nhuộm tóc để tóc đen như gỗ mun. Thời đại hiện nay có rất nhiều, hàng trăm, hàng ngàn nàng Bạch Tuyết công nghệ như thế.

Người thế gian chìm đắm trong thân xác công nghệ, rồi kẹt vào vẻ hào nhoáng bên ngoài như thế. Người có tâm giải thoát là giải thoát ra khỏi ý niệm đó là sắc đẹp, đó là cái ta phải tìm cầu, đó là cái ta phải dính mắc. Muốn giải thoát ta phải buông bỏ tất cả các ý niệm đó đi.

Hành trì chánh pháp miên mật, thu nhiếp thân tâm miên mật và đạt quả vị giải thoát là biết cúng dường chư Phật, đây là cúng dường cao thượng nhất. Cho dù xây một triệu bức tượng Phật không bằng một ngày biết tu giới, biết tu tuệ, biết tu định, biết tu thiền. Cho dù lạy Phật một triệu lần nhưng tâm đầy ô nhiễm không bằng một người trong ngày đó có giới, có tuệ, có định, có chánh pháp, có hành trì, có khiêm cung, có lắng nghe, có tâm từ, có tâm bi, có giải trừ địa ngục, có phụng sự chúng sinh, có tâm cung kính.

Con xin đem tâm cung kính để cung kính những người đang thực tập tâm cung kính.

KINH PHẢI BIẾT TỰ LƯỢNG SỨC MÌNH


KINH PHẢI BIẾT TỰ LƯỢNG SỨC MÌNH

Trên đường đi Linh Thứu, Phật đến thăm trung tâm tu học Rừng Mát. Nơi đây Phật gặp lại đại đức Sona Kolivisa. Đại đức đã xin xuất gia với Phật tại Linh Thứu rồi đến tịnh xá Rừng Mát tu học. Trước khi xuất gia Đại đức là một thanh niên nho nhã yếu đuối, da bàn chân non mỏng, con một nhà đại phú. Thấy đại đức Sona có vẻ yếu đuối, bệnh hoạn, chán nản, Phật gọi đến hỏi:

- Này Sona, thầy có được khỏe không? Việc tu học và khất thực có khó khăn lắm không?

- Bạch Thế Tôn, sức khỏe con vẫn bình thường. Việc tu học và khất thực không có gì khó khăn lắm.

- Này Sona, có phải trong lúc đi kinh hành chân thầy thường bị rách da chảy máu, và trong khi ngồi thiền tịnh nơi thanh vắng thầy có ý nghĩ muốn trở về  đời sống cư sĩ để thọ hưởng gia sản và tạo phước đức vì thầy không kham nổi đời sống xuất gia?

- Bạch Thế Tôn, đúng vậy.

- Trước khi xuất gia, thầy thường làm gì?

- Bạch Thế Tôn, con thường thích đánh đàn tranh.

- Này Sona, trong lúc đánh đàn thầy làm sao cho tiếng nhạc được êm tai, thánh thót?

- Bạch Thế Tôn, muốn cho tiếng nhạc được êm tai, thánh thót, thì trước khi đàn phải lên dây cho đúng độ căng. Nếu dây chùng quá thì tiếng nhạc mềm nhũn, điếc câm, nếu dây căng quá thì dễ bị đứt.

Này Sonna, việc tu tập cũng thế. Nếu giải đãi, lười biếng thì đạo nghiệp không thể thành tựu được. 

Nếu cố gắng quá sức chịu đựng thì sinh ra mệt mỏi, bệnh hoạn, thối chí ngã lòng. Thầy phải biết tự lượng sức mình, phát tâm dũng mãnh tu tập nhưng đừng gò ép thân tâm quá mức. Như vậy thầy mới mong thành tựu đạo nghiệp.           

Trong trường hợp này Đức Phật dạy rằng tùy theo hoàn cảnh, cơ địa của bản thân mà thực tập pháp môn cho thích hợp. Khi tu tập không quá cố gắng ép xác, ép tâm để mau đi tới thành tựu, hãy thực tập vừa sức, nếu có nhiều thì giờ và sức khỏe thì thực tập nhiều, ngược lại phải linh động. Tuy nhiên dù đang khỏe mạnh có nhiều thì giờ hoặc không khỏe mạnh và có ít thì giờ thì cũng không được rời bỏ việc thực tập. Thường xuyên duy trì năng lượng thực tập của mình. Mệt mỏi có thể buông thư, thiền uống trà hoặc thực tập ngồi yên, nằm yên với tư thế ngửa hoặc nghiêng phía bên phải … tất cả những điều này có thể xóa tan đi mệt mỏi. Khi khỏe mạnh hãy thực tập những bài đòi hỏi công phu nhiều hơn như học kinh điển, tọa thiền, viết sách, chia sẻ giáo lý, làm việc trong chánh niệm… Vấn đề là nên giữ cho được tâm Bồ Đề. Quán chiếu: Nếu tiếp tục gìn giữ tâm Bồ Đề mình sẽ đi về đâu? Và nếu không giữ tâm Bồ Đề thì mình sẽ đi về đâu? Cũng vậy làm bất cứ việc gì cũng quán niệm như thế. Hạnh phúc hay khổ đau đều do tâm mình tạo, thiên đường hay địa ngục cũng đều do tâm mình tạo và tất cả những điều ấy đều là do nghiệp chiêu cảm ra.  Nghiệp từ đâu mà có? Do ý mà ra và ý là dẫn đầu, ý đưa đến lời nói, hành động. Làm chủ được tâm, chánh niệm được tâm thì sẽ chánh niệm được lời nói và hành động. Làm được như thế sẽ đối diện được những nghiệp không thiện và thiện cũng như chấm dứt những nghiệp mới.

Này Sona, muốn tu tập có kết quả, người tu phải biết chọn pháp môn tu thích hợp với căn tánh, năng khiếu và trình độ của mình, như người quen làm thợ kim hoàn nên tập quán sổ tức, người quen làm thợ giặt nên tập quán bạch cốt, và phải biết rành thời gian nào nên tu chỉ, thời gian nào nên tu quán, thời gian nào nên tu xả.

Tùy theo căn tính của mình hãy lựa chọn phương pháp thực tập thích hợp. Có phương pháp thiền nguyên thủy, thiền tông, tịnh độ, mật tông… ngoài ra còn có những phương pháp hỗ trợ như lục độ ba la mật, trong đó Đức Phật dạy bố thí, kham nhẫn, trì giới. Để cho việc thực tập thiền, niệm Phật thuận lợi hơn thì nên thực tập trì giới, kham nhẫn. Trong thiền tập đòi hỏi phải có trì giới, kham nhẫn. Khi mình ngồi thiền tức là mình đang niệm giới. Thực tập thiền là đang niệm thân, niệm thọ, niệm tâm, niệm pháp, có nghĩa là mình đang niệm giới chi tiết hơn. Khi tụng giới niệm giới theo cách thông thường thì điều này vẫn mang tính chất phổ quát còn khi đi vào thiền mình đang niệm giới một cách chi tiết, vi tế hơn. Thực tập thiền nghĩa là đang soi sáng tự thân, soi sáng thân thọ tâm pháp của mình. Niệm Phật cũng vậy, khi phóng tâm, tâm nào diễn ra phải nhận biết và sau khi niệm phóng tâm đó rồi thì quay lại với câu niệm Phật, không lấy câu niệm Phật để đè nén đối tượng phóng tâm. Ví dụ có một tâm tham dục nổi lên mà niệm câu A Di Đà Phật cho mau hơn để xóa tâm tham dục đi thì chưa thực tập đúng. Thực tập không phải là bãi chiến trường mà mình lấy cái thiện đè cái ác, trong cái ác có thiện và ngược lại, nhờ có ác mình mới nhận ra thiện, nhờ có thiện mà quyết chí không làm ác nữa cho nên thiện và ác giúp đỡ lẫn nhau. Trong lúc thiền, đối tượng thiện ác nổi lên mình mới biết tâm lăng xăng không an định như thế nào.

Đối với người thợ kim hoàn thì nên quán sổ tức, tức là đếm hơi thở. Thợ kim hoàn thì cân đong đo đếm nhiều cho nên sử dụng việc đếm hơi thở. Người làm kinh doanh, chứng khoán, kế toán tâm rất lăng xăng có đầy rẫy căng thẳng và sự lo lắng, đối tượng này nên tập quán sổ tức, điều này phù hợp với tính chất công việc của họ. Họ có thể trong lúc nghỉ ngơi ngồi thẳng lưng toàn thân buông lỏng trên ghế, sau đó bắt đầu tập đếm hơi thở. Thở vào đếm một, thở ra đếm một, đếm tới 10 rồi quay lại đếm một. Người thợ giặt thì nên quán bạch cốt hay cửu tưởng. Người thợ giặt phải làm sạch các bộ quần áo, mà mỗi vị trí nơi áo quần họ giặt tương ứng với những bộ phận trên cơ thể cho nên khi tập quán như thế sẽ phù hợp.

Phải biết rành thời gian nào nên tu chỉ. Lúc hoàn cảnh khiến tâm mình lăng xăng thì nên tu chỉ để an tịnh tâm hành. Buông thư cũsng được xem là phương pháp tu chỉ. Và khi có nhiều sức khỏe và thì giờ, cũng như sự minh mẫn thì nên tu quán, nghĩa là quán chiếu sự phát khởi diễn ra kết thúc của đối tượng, nguồn gốc cái đang diễn ra, đi về tương lai của một đối tượng nào đó. Ví dụ như tại sao mình lại giận, đó là quán chiếu quá khứ. Mình biết cái giận đang diễn ra có nghĩa đang quán chiếu hiện tại. Cơn giận này sẽ đưa mình đi đến đâu? Đó là quán về tương lai.

Thời gian nào nên tu xả. Tu xả khi trong tâm có những cố chấp, phân biệt, so sánh, tham cầu, dính mắc, mệt mỏi… để cân bằng trạng thái lại về không, không để cho trạng thái đi về phía 1 hay -1. Giống như người làm kế toán, khi đưa vào bên Nợ một con số thì bên Có cũng phải có một con số đó, âm bao nhiêu thì dương bấy nhiêu để cân bằng, trạng thái cân bằng được coi là xả, xả là bình thường hóa tất cả các trạng thái. Xả không có nghĩa là vô cảm mà mình nhận diện tất cả cảm thọ mà không kẹt vào chúng, không chạy theo, thấy trời xanh mây trắng mà có lạc thọ, mình niệm: À tôi có cảm thọ lạc vì nhìn thấy trời xanh mây trắng, nhưng đừng để bị kẹt vì nếu như kẹt vào đối tượng đẹp đẽ lúc bị bắt giam vào trong ngục thì đâu thấy trời xanh mây trắng, chỉ thấy một xà lim tối thui, lúc đó sẽ làm gì để duy trì trạng thái xả ở trong đó. Dính mắc vào đối tượng dễ thương thì vô hình chung không còn cân bằng nữa dù nó mang dáng vẻ của lạc thọ. Khi thực tập thiền sâu thì sẽ thấy được những điều vi tế như vậy, không kẹt vào những đâu cả, không theo phe, đối tượng nào cả. Còn theo phe thì có khuynh hướng bênh vực hay bảo vệ bằng mọi giá, lúc đó đẻ ra một phiền não gọi là cuồng tín, chính điều đó gây hại cho bản thân vì mình không xả được, mình lên án và chỉ trích, mình không bình thường hóa vấn đề được, không hiểu được tại sao người lên án và chỉ trích. Có người Comment trên bài viết Vô Tham của thầy rằng họ được mở ra một góc nhìn mới về lòng tham.

Tham không chỉ là dục lạc hưởng thụ mà còn là tham tu. Mình bắt người khác cung phụng cho sự tu của mình. Mình nói là tôi đang tu đó và mọi người phải yểm trợ cho cái sự tu của tôi, điều này cũng là cái vi tế của tham. Khi tu để tạo được thuận duyên thì có thể ngỏ ý người xung quanh yểm trợ cho mình và trường hợp hoàn cảnh không có như ý muốn thì cũng không có phiền não, chỉ là do người xung quanh chưa biết cách yểm trợ mà thôi, mình bình thường hóa hoàn cảnh và sẽ xả được trong tình huống như thế.

Khi người tu thấy hai hạnh định và tuệ chưa bình đẳng, lòng chưa tự tin, tâm chưa an, thì không nên tu hạnh xả. Lúc định tuệ bình đẳng thì nên tu hạnh xả, tức là bỏ cái chấp mình đang tu và có pháp để tu. Tâm xả là tâm vắng lặng, không chỉ, không quán.

Thực ra thiền quán vẫn còn ý niệm ở trong, thiền quán giúp mình giảm dính mắc và tham cầu. Khi tập Minh sát tuệ, thiền quán Tứ niệm xứ xong rồi thì phải tập thiền xả để không còn bị kẹt vào những bài thiền ấy. Khi qua sông thì nương vào bè nhưng khi qua rồi thì phải bỏ chiếc bè ấy đi.

Lúc định tuệ bình đẳng thì nên tu hạnh xả, tức là bỏ cái chấp mình đang tu và có pháp để tu. Khi có trí tuệ hay có cái thấy thì phải xả tuệ giác đó, không ôm tuệ giác. Người tu thường nói rằng phải phát triển niệm định tuệ để tuệ giác lớn mạnh nhưng khi tu tới mức độ nào đó phải xả bỏ cả tuệ giác đi để không còn chấp vào cái thấy nữa. Cái thấy mới sẽ làm mình hoan hỷ tuy nhiên sau sự hoan hỷ đó mình sẽ có một sự tầm cầu mới muốn thấy nhiều hơn nữa. Còn thấy là còn ý niệm cho dù được cho là tuệ giác. Tu cho tới khi không còn cái thấy gì nữa gọi là chân tu. Ban đầu chưa thấy thì phải tu sao cho thấy, nhưng sau đó phải quay lại cái chưa thấy. Giống như có vị tổ nói rằng: Khi chưa tu thì thấy núi là núi sau khi tu rồi thấy núi không là núi, tu nữa thấy núi chính là núi. Cách nói này rất hay để không chấp vào cái thấy nữa. Mới đầu chưa đi tu có ai hỏi rằng mình có ăn chay tu tập không? Mình nói không, tu làm gì ăn mặn cho khỏe. Sau khi đi tu rồi mình nói à tôi đang tu đó, có pháp danh, quy y Tam Bảo, thọ trì ngũ giới, vào chùa mặc áo lam, ngồi thiền hai ba tiếng. Tu thời gian, có ai hỏi dạo này tu dữ hen? Không, tôi có tu gì đâu, tôi chẳng tu gì cả. Giống như vậy đó. Cho nên khi mình xây tòa Như Lai rồi thì tới lúc nào đó mình phải đập bỏ tòa ấy, có cái gì gọi là tòa Như Lai đâu.

Này Sona, khi người tu sinh lòng kiêu mạn vì tự thấy mình hiểu rành giáo lý, thuyết pháp hay, vấn đáp giỏi, được nhiều người cung kính thì không nên tu tập trí tuệ nữa mà phải lo tu tập chánh định. Khi người tu thối chí ngã lòng vì tự thấy mình kém cỏi, không chế ngự được phiền não, không điều phục được sáu căn, nghi ngờ giới luật không đúng thì không nên tu chỉ mà phải tu quán.

Khi sinh lòng kiêu mạn vì cho rằng hiểu được cái này cái kia thì tâm đang lăng xăng, đang trong trường hợp cống cao ngã mạn, đang tăng thượng mạn sai sử thì nên tập trung vào thiền định để chế ngự lăng xăng. Có một số người có những cái thấy rất sâu nhưng mà định chưa nhiều. Nói niệm dẫn tới định, định dẫn tới tuệ vẫn chưa chắc vì có thể do phước báu nhiều đời nên có tuệ, tuệ để dành đời này qua đời khác cho nên định phải có để duy trì, nếu không có định thì khi phước hết tuệ sẽ mai một đi. Tuy nhiên nếu thấy trí tuệ kém yếu, tật đố hơn, thua, kém, bằng khởi lên thì nên tu quán để phát triển trí tuệ. Việc tu quán nhiều khi có tính chất suy diễn. Tu quán để phát triển trí tuệ nhưng hãy chuẩn bị trước rằng không kẹt vào trí tuệ ấy, tu quán cũng là cách để diệt trừ tham sân si.

Này Sona, thầy nên học hỏi và thực hành theo Bảy Pháp giác chi là niệm, trạch pháp, tinh tấn, hỷ, khinh an, định, xả, để được kết quả tốt đẹp.

Tại sao trong Bảy giác chi hay Thất bồ đề phần hay Bảy yếu tố giác ngộ, yếu tố cuối là xả? Khi có cái thấy nào thì phải xả liền: Tôi đang thấy đối tượng này, tôi biết đối tượng từ khi đối tượng khởi lên và kết thúc, tôi không kẹt vào đối tượng. Xả hay như vậy.

Đọc sách về nghiệp đừng nên kẹt vào, giờ mình đọc sách phân biệt đúng sai đủ điều, đúng cũng là ý niệm, sai cũng là ý niệm, không đúng không sai hay vừa đúng vừa sai đều là ý niệm. Đọc Kinh Chủ trương của Như Lai thì mình sẽ hiểu rõ hơn. Ở đây cũng vậy, đọc sách mình không kẹt vào sách, bất kì cuốn sách nào. Nghe giảng cũng vậy, nghe cũng chỉ để nghe thôi, và khi người đủ duyên chỉ cần nghe một câu rất bình thường nhưng chuyển hóa sâu sắc. Mình có một cái kẹt là thực tập thiền nguyên thủy mà đọc sách thiền tông quá nhiều. Một người thực tập thiền tùy theo duyên mà gặp được pháp môn phù hợp, tuy nhiên bảo vệ pháp môn một cách bất di bất dịch là dính mắc, đưa tới những tranh cãi. Pháp môn Hiện pháp lạc trú nếu thấy giúp ích cho mình thì thực tập, nhưng đừng kẹt vào, thiền tông hay thiền nguyên thủy cũng vậy. Thực tập thôi nhưng không kẹt vào, cái này mới đúng cái kia là sai, chỉ có pháp môn này là thù thắng hơn cả, mình cho rằng pháp môn mình thực tập là thù thắng nhất thì hãy thực tập sao cho có kết quả không nên dùng mỹ từ ca ngợi mà trong khi sự thực tập chưa có đi đến đâu.

Khi thực tập có niệm miên mật thì xả niệm đó, bình thường hóa niệm bởi khi có thói quen chánh niệm xuyên suốt thì có gì gọi là niệm nữa đâu. Trạch pháp có nghĩa là yếu tố quán chiếu và lúc nhuần nhuyễn cách quán chiếu ấy, bất kì đối tượng nào khởi lên mình đều có thể quán chiếu được và khi xả được yếu tố quán chiếu ấy thì mình không còn thấy gì nữa. Ví dụ như ngày trước ăn miếng chả giò chị gái mang tới, sau khi ăn mình đi ngồi thiền, quán chiếu và thấy đâu chỉ có mình ngồi thiền mà chả giò ngồi thiền, công sức của chị ngồi thiền, vạn vật giang tay góp mặt và mình chỉ là một cầu nối cho vạn vật ngồi thiền thôi, quán chiếu xong liền xả điều vừa thấy ra, xong rồi, mình không kẹt vào ai là người tu, ai là người ngồi thiền nữa. Ngồi thiền xong, nhớ lại chu trình quán chiếu vừa rồi mình cũng chỉ là một sự suy diễn, cũng là ý niệm mà thôi. Tất cả những gì mình quán chiếu đều là ý niệms. Mình không cần vận động để dành giải thưởng nào đó, mình tu rồi thì không cần những danh vọng, tài, sắc, danh, thực, thùy mình không cần. Tham len lỏi ở trong tâm, nhiều lúc mình sẽ không nhận ra được cho nên để cho duyên tự nhiên phát triển mặc dù người ta nói cần tạo ra cái duyên, còn tạo thì còn nghiệp, còn nghiệp thì tiếp tục tái sinh để trả nghiệp, cho nên muốn chấm dứt sinh tử thì phải chấm dứt tác ý và tạo duyên nghiệp, để tùy duyên mà vận hành. Dẫu vậy vẫn cần có sự điều chỉnh vì có những cái duyên dẫn mình đi xa sự thực tập. Khi duyên tới thì tránh cũng không được, khi duyên hết thì có cố gắng níu kéo cũng không được. Ví dụ như trước đây thầy có nói sau này bạn đồng tu kia sẽ lại tới kiếm thầy nhưng thầy không chịu nữa, vì đã hết duyên. Có những nghiệp bất thiện phá nghiệp thiện, phá duyên tốt lành của mình đi. Khi mình nhận một người không chỉ để lo tu tập mà người đó cần có sự hòa hợp với bạn đồng tu khác, ví dụ nếu bạn Tới muốn tập chung thì Tới và Dũng cần có sự hòa hợp với nhau mới được, mình xây dựng một cộng đồng hòa hợp chứ không làm theo ý cá nhân, khiến bản thân trở thành hạt nhân nằm ngoài cộng đồng, hạt nhân từ từ tách ra không đi chung cộng đồng nữa. Vì vậy khi phát triển cho một người thì phải xây dựng cho người đó hòa hợp với mình và cộng đồng của mình mới được nếu không họ sẽ thấy rất xa lạ, sau một thời gian mà thấy khó lòng hòa hợp thì thật khó có thể đi cùng.

Trong sự thực tập cần có sự tinh tấn siêng năng, siêng năng thực tập chánh niệm, quán chiếu, trạch pháp nhưng khi siêng năng như vậy phải xả ra, thực tế mình không làm gì, mình chỉ đi hết một ngày. Và khi phát khởi hỷ do siêng năng tu tập thì cũng xả cái hỷ đó bằng không sẽ đi vòng vòng với tâm hỷ đó, chừng nào đạt tới khinh an có nghĩa là an lạc với tất cả vấn đề cho dù là hỷ thì tốt. Ngày xưa khi Đức Phật hoan hỷ ngài đâu vui vẻ thái quá, có thể người chỉ mỉm cười, một nụ cười rất nhẹ mà không ai hiểu tại sao nụ cười ấy lại an lại lạc như vậy. Khi có định, có nghĩa là đã chú tâm vào một đối tượng nhất định thì cũng phải xả ra để không kẹt vào yếu tố mình chú tâm, thực tập là phải buông ra. Khi buông xả được thành tựu, những ý niệm im bặt, hành giả sẽ không biết nói gì vì không có ý niệm khởi lên để mà sử dụng. Có một số trường hợp có một số vị thầy được mời giảng mà không biết giảng ra làm sao, các vị thầy chỉ ngồi và sau đó nói vài bài kệ, không nói điều gì nữa.

Có một số trường hợp tâm sân là do mộng tưởng mà ra hoặc do sự sai khiến của những tâm bất thiện còn ngủ ngầm. Mình nên niệm tâm sân, biết, diễn ra tới khi lắng dịu thì mình biết nó lắng dịu. Khi thực tập chánh niệm thời gian đầu sau đó mệt thì mình đổi kiểu chánh niệm đi, ví dụ trước đây niệm thân, khẩu, ý thì mình có thể làm mới phương pháp sang các bài kệ để không bị nhàm chán. Hoặc mình có thói quen giải trí, và chánh niệm lâu ngày thói quen giải trí nổi lên.

Khi bị bức bách trong lúc thực tập thì phải biết mình bức bách điều gì? Ngột ngạt bởi bốn bức tường hay là gì, nếu bốn bức tường ngột ngạt thì mình đi ra ngoài, đi thiền hành quanh thất của mình. Việc này cũng là do mình chưa quen nhập thất lâu, nghiệp của mình níu kéo không cho mình thực tập, trạo cử nổi lên nên mình thấy bức bách.

Bị căng thẳng trong lúc thực tập là do mình ép thân tâm quá mức nên thực tập khoảng một giờ đồng hồ sau đó nghỉ ngơi một chút rồi đọc kinh, nghỉ ngơi tiếp, cứ như vậy, không nên làm việc một cách liên tục, như sợi dây đàn quá căng khi chơi sẽ bị đứt.

Khi ăn cơm mà thấy vui thì phải biết mình đang vui. Vui à! Tôi biết là tôi đang có hạnh phúc. Nếu không mình sẽ kẹt vào thiền ăn cơm, mình sẽ chờ tới giờ ăn cơm mới vui được. Dĩ nhiên là việc thực tập trong khi ăn cơm sẽ đem lại an vui nhưng nếu không có chánh niệm về niềm vui đó thì khi niềm vui qua đi tâm mình sẽ có mong cầu niềm vui, tìm kiếm lại giây phút vui vẻ đã từng trải qua. Thực tập có kết quả hơn thì khi bước đi từ bàn ăn ra mình vẫn có niềm vui như thường. Mong cầu ăn cơm để có niềm vui là một dục, và khi có dục sâu dày mình sẽ có tâm phán xét. Mình ăn rất từ tốn và chánh niệm, không vội vàng nhưng khi thấy người xung quanh ăn rất vội vàng, hối hả, tất bật nên trong tâm khởi lên sự phán xét là tại sao mấy người này không ăn như mình. Vì thế phải có chánh niệm trong mọi hoàn cảnh, khi vui biết đang vui và có ý thức về niềm vui đó. Khi buồn biết là mình đang buồn, có ý thức về nỗi buồn đó, như vậy niềm vui và nỗi buồn cũng sẽ mau chóng qua đi. Cho nên mình không níu kéo niềm vui, và không xô đẩy nỗi buồn.

Khi thiền bị tức ngực là do bị ép hơi thở. Nguyên tắc của việc thực tập thiền là mình theo dõi hơi thở một cách tự nhiên, không can thiệp vào. Mình có thể xem lại tư thế ngồi, do không được buông thư khi bắt đầu cho nên hơi thở không còn tự nhiên, thân bị gồng cứng sẽ bị tức ngực. Một nguyên nhân nữa là do bị phóng tâm nhiều, khi phóng tâm thì tạm ngưng theo dõi hơi thở, hãy niệm sự phóng tâm, khi nắm bắt được phóng tâm thì lúc đó mới theo dõi hơi thở trở lại.  Cuối cùng, có thể do thời tiết thay đổi, sự ăn uống trước đó không quân bình âm dương.

Ăn chay có ăn trứng không?

Nếu thuần chay thì câu trả lời là không được ăn trứng. Có một số nơi ăn chay không ăn sản phẩm làm từ sữa của động vật vì trong sữa có gen của loài vật và khi ăn, nguồn gen đó đi vào máu, tương tác với máu và biến đổi gen trong cơ thể mình khiến mình mang tính động vật hơn, đó là quan niệm của họ. Tuy nhiên trong trường hợp mình cần phải trị bệnh thì mình có thể ăn sữa chua, ví dụ đường tiêu hóa yếu ăn không tiêu thì nên dùng sữa chua vì trong thức ăn này có men vi khuẩn giúp mình tiêu hóa tốt hơn, làm cho đường ruột không bị viêm. Người dùng thuốc kháng sinh chống viêm nhiều làm vi khuẩn trong đường ruột mất đi dẫn tới bị viêm đường ruột. Nếu mình ăn chay thuần túy thì đừng dính mắc vào việc này, bản chất của ăn chay là để nuôi dưỡng lòng từ bi. Có một điều nhắc nhở là khi ăn chay có những vong bên ngoài thèm mặn có thể đi vào cơ thể của mình và khuyến khích mình ăn mặn: bữa nay ăn mặn một bữa có sao đâu? Làm như vậy để họ nương vào thân mình hưởng đồ ăn. Chính vì thế người ăn chay bị phá dữ lắm, ăn thuần chay thì càng bị phá dữ hơn.

Ăn chay thì tốt nhất là không ăn trứng, nếu ăn thì phải cầu siêu, dù là trứng công nghiệp hay không. Giờ khoa học có phương thức thụ tinh nhân tạo. Em bé được sinh ra là em bé công nghiệp nhưng dù vậy nếu mình làm tổn thương em bé thì vẫn là sát sinh như thường. Trong giới Tỳ kheo có giới là không sát hại hạt giống và cỏ cây. Ví dụ khi mình ăn trái xoài thì có hột xoài thì mình cũng phải bảo vệ hột xoài đó. Hột xoài có thể trở thành một cây xoài.

Trên thực tế có những người ăn mặn nhưng vẫn tu giỏi như thường, Đức Phật hay các sư Nam Tông là ví dụ, tuy nhiên khi ăn mặn thì phải tu cho giỏi như người đi trước vậy, đừng lấy thế hệ trước làm bình phong cho cái tham ăn trong mình.

Xin chỉ dẫn thêm về bài thiền số 11 Minh Sát Tuệ?

Bài thiền số 10 là chánh niệm về sáu tâm độc. Bài số 11 mình phải thu thúc cho được năm triền cái: Trạo cử, hôn trầm, dục, sân, hoài nghi. Người nào đi qua được năm triền cái này có thể đi vào dòng.

Triền cái thứ nhất là Trạo cử. Trạo cử gồm có bất an, lăng xăng và giao động. Nghĩa chính của trạo cử là lăng xăng, nghĩ chuyện này chuyện kia không ở trạng thái định. Lăng xăng kéo mình đi khiến mình không an trú được với suy nghĩ, việc làm, lời nói của mình. Nghĩa thứ hai là bất an, là một cục lo rất lớn về tương lai, về hoàn cảnh xung quanh nên không an trú trong thực tại đang là. Khi có những bất an sẽ kéo theo sợ hãi lo lắng. Nghĩa thứ 3 của trạo cử là giao động, giao động này có hơi hướng của hoài nghi. Mình bị lung lay bởi niềm tin hoặc quá hồ hởi hay quá tập trung vào một đối tượng nào đó khiến cho mình không còn điềm tĩnh với đối tượng đang tiếp xúc. Ví dụ như việc so sánh pháp môn thực tập, cho nên mình không biết nên đi theo hướng nào? Theo số đông hay thiểu số, chất lượng hay số lượng, đi theo năm dục hay thiểu dục… lúc này mình đánh mất tâm xả nên không xả ra được, làm mình giao động. Trong tâm khởi sự phân biệt cũng khiến cho mình giao động. Có phân biệt nên có so sánh, ngồi suy nghĩ làm cái nào tốt cho mình hơn, an toàn hơn và mình giao động trong sự so sánh, phân biệt đó. Khi có lăng xăng thì  phải biết lăng xăng, giao động và bất an cũng vậy, mình niệm cho tới khi chúng lắng dịu. 

Triền cái thứ hai là hôn trầm. Hôn trầm là mê muội và buồn ngủ. Khi ở trong trạng thái miên man thì không làm chủ thân tâm, thần thức đang vật vờ, sự vật vờ mang tới những mơ mộng, phóng tâm. Khi buồn ngủ thì phải sử dụng những phương pháp thắp lại ánh sáng nội tâm để diệt trừ cơn buồn ngủ: không ăn quá no, trước khi ngồi thiền không làm việc quá mệt nhọc, hãy nghỉ ngơi vừa đủ rồi hãy ngồi thiền, hay massage mặt, đi thiền hay tụng kinh .v.v… Mê muội trong hôn trầm chưa hẳn là buồn ngủ nhưng sự kiện diễn ra mà mình không có chánh niệm, mình bị đối tượng phóng tâm kéo đi, mình miên man trong dòng suy nghĩ về đối tượng đó. Nhiều khi mình khá tỉnh táo nhưng vẫn mê muội vì không có ý thức được những gì đang nghĩ tới.

Triền cái thứ ba là dục, chủ yếu là tham dục. Có năm thứ dục là tài, sắc, danh, thực, thùy. Trong lúc thực tập thiền, điều gì khởi lên trong tâm thì phải biết điều đó đang khởi lên, từ bài số 1 tới bài số 7 mình chỉ niệm rằng: à tôi biết là tôi đang phóng tâm thôi, nhưng tới bài số 10 thì phải biết dục nào đang khởi lên. Dục sắc đang khởi thì niệm tham sắc à. Sắc ở đây không chỉ là sắc thân mà còn là sáu sắc: thanh sắc, vị sắc, khứu sắc, xúc chạm sắc, suy nghĩ sắc, hay danh và sắc thì tất cả những đối tượng ấy đều là sắc. Thiền minh sát chỉ dừng lại ở chỗ là có điều gì khởi lên thì niệm, mình không can thiệp, không như những bài sau này như bài 13, 14, 15 thì phải niệm từ đầu cho tới cuối từ lúc ý niệm khởi lên, diễn ra và kết thúc. Bài 8 tới 11 thì dừng lại ở mức nhận diện điều đang diễn ra.

Đối với triền cái sân và nghi thì giống sáu tâm độc của bài số 10.

Hướng dẫn quán chiếu trong bài số 11? Việc áp dụng bài số 11 trong đời sống hàng ngày?

Bài Thiền minh sát số 11 là nhận diện đơn thuần về năm triền cái. Triền cái nào nổi lên thì phải niệm cho được. Thông thường trong giờ công phu mình mới quán chiếu được quá trình của đối tượng, tuy nhiên trường hợp ít thời gian cũng có thể thực hiện nhưng quá trình diễn tiến rất nhanh, đi thẳng tới kết quả quán chiếu, ví dụ như quán chiếu với tham dục thì quán chiếu tham dục sẽ đưa mình tới đâu? Nó có đáng dính mắc hay đáng tham cầu hay không? Trong giờ công phu cách thứ nhất là thở bình thường, tâm đặt vào đối tượng quán chiếu. Cách hai là vừa theo dõi hơi thở vừa chú tâm vào đối tượng quán chiếu: Thở vào tôi biết tôi đang để ý tới đối tượng tham dục, thở ra tôi biết tôi đang để ý tới đối tượng tham dục. Thở vào đối tượng tham dục này sẽ dẫn tôi tới tiến trình như thế nào, thở ra đối tượng tham dục này sẽ dẫn tôi tới tiến trình như thế nào? Mình có thể kết hợp sự quán chiếu với hơi thở như vậy. Chú ý là khi kết hợp mình không có quán chiếu được hơi thở từ đầu tới cuối, mình chỉ có thể nhận diện được sự phồng xẹp ở bụng. Trong đời sống hằng ngày mình không có nhiều thì giờ, đối tượng diễn tiến rất nhanh cho nên chỉ quán chiếu tới kết quả của đối tượng mà thôi. Trong giờ công phu thì mình có thể quán chiếu vi tế được lâu dài hơn.

Thực tập có rất nhiều hoan hỷ thì phải làm sao?

Khi thực tập có hoan hỷ thì mình phải nhận diện sự hoan hỷ đó. Mình phải nhận diện và không bị kẹt vào vì hoan hỷ rồi cũng sẽ trôi đi, vấn đề là mình có gìn giữ được sự hoan hỷ đó lâu hay không? Nếu duy trì được và biết sự duy trì đó, còn khi không còn duy trì được thì mình cũng biết mình đang ở trạng thái không hoan hỷ. Cho nên khi thực tập thiền quán thì mình biết được một đối tượng đang khởi lên, diễn ra và không còn nữa. Trong thiền tuệ cũng vậy, khi phóng tâm tới đối tượng, khi cảm thọ phát khởi thì mình cũng biết nó vừa phát khởi, diễn ra, kết thúc và không trỗi dậy lại nữa.

Niết Bàn là sự tĩnh lặng. Không nói mình đang nằm trong trạng thái gọi là hoan hỷ hay không hoan hỷ. Vấn đề là mình đang ở trạng thái nào thì mình phải biết nó, mình không kẹt vào trạng thái nào, khổ đau hay hoan hỷ. Quán chiếu về năm dục không đáng dính mắc, không đáng tham cầu mà mình còn dính mắc vào hoan hỷ thì mình vẫn còn tham cầu và dính mắc vào hoan hỷ dù cho đối tượng này là điều tích cực. Việc tụng kinh ngồi thiền là hành vi tích cực, mình rèn luyện đã thành thói quen mà khi tới giờ mình không thực tập được thì phiền não phát khởi, ham muốn ban đầu đã trở thành phiền não. Bố thí cúng dường là hành vi tích cực nhưng nếu rầu rĩ về nó thì phẩm chất thiện cũng giảm đi ít nhiều. Cho nên đối với người chưa có xây tòa Như Lai, chưa có ở trong nhà Như Lai có nghĩa là thân tâm chưa có niệm định tuệ thì vị Thầy sẽ hướng dẫn cho người đó phải xây cho được một ngôi nhà Như Lai, nhưng khi trong tâm đã xây được ngôi nhà Như Lai thì mình phải đập bỏ nó đi. Ngày xưa Thầy Bồ Đề Đạt Ma đi yết kiến sư phụ ở Ấn Độ, vị sư phụ yêu cầu Thầy xây nhà cho mình, tưởng xây một ngôi nhà bình thường nên Thầy Bồ Đề Đạt Ma kéo lá kéo cây về làm. Sau khi làm đi làm lại nhiều lần cuối cùng Thầy cũng xây được ngôi nhà. Vài bữa tổ bước ra ngoài cầm cây rìu chặt bỏ ngôi nhà đó liền. Lúc này vị sư phụ mới bắt đầu dạy đạo cho Bồ Đề Đạt Ma.


Những cái mình xây chẳng qua chỉ là một ý niệm nữa mà thôi. Cuốn sách Người vô sự cũng chỉ là những ý niệm, những lời dạy của tổ Lâm Tế là những ý niệm, những ngôn ngữ văn tự, những ngôn từ của thầy cũng chỉ là những ý niệm. Các ý niệm delete lẫn nhau. Sở dĩ người cố chấp là do ý niệm tồn tại quá lâu và cho đến khi có sự kiện nào đó diễn ra khiến ý niệm cũ xóa nhòa, cố chấp sẽ bớt đi tuy nhiên sự kiện mới sẽ tạo cho mình một ý niệm mới. Cho nên Thầy đã nhắn tin lại là tâm này là vô thường, tâm này còn phải buông sau tin nhắn của con. Khi mình có một ý niệm thì mình phải biết rằng mình đang có ý niệm như vậy và không kẹt vào ý niệm nào cả thì lúc này mình không còn cố chấp, khi ý niệm tắt ngấm thì mình thực sự tiếp xúc với Niết Bàn. Nói Niết Bàn là sự tắt ngấm của tất cả các ý niệm, tuy nhiên câu vừa nói cũng là một ý niệm, cho nên kinh điển sách vở chỉ là ngón tay chỉ mặt trăng, chừng nào mình im bặt không còn lời nói, thậm chí không còn thuyết pháp, không còn muốn đọc sách viết sách nữa… thì đó là Niết Bàn. Bật một tiếng nói là ý niệm, viết một chữ là ý niệm. Ví dụ giờ mình lấy Kinh Pháp cú ra viết thư pháp và cho đó là kinh, về mặt tướng thì đó là kinh nhưng kinh không nằm trong chữ mà nằm trong sự hành trì cho nên người ta nói rằng phải trì tụng tâm kinh mỗi ngày. Nếu nói đi theo con đường tâm hơn đi theo con đường tướng thì phải chú ý rằng tâm này không có thật, tâm bị chi phối bởi cảnh, cảm thọ và nhận thức. Tâm biến chuyển không ngừng và nếu không có chánh niệm sẽ bị các đối tượng kéo đi ngay lập tức cho nên mình đọc sách, quán chiếu chỉ để quán chiếu thôi. Sư ông nói rằng: ăn cơm chỉ là ăn cơm, lắng nghe chỉ là lắng nghe. Có thể những câu nói đó là những ý niệm nhưng nếu như mình không chấp vào gì nữa cả thì mình không còn ý niệm nào nữa. 

Mình có dám dấn thân không?


Mình có dám dấn thân không?

Đức Phật dạy tiếp trong Kinh Tuổi trẻ và hạnh phúc:
Không thấy rõ ái dục, mới vướng vào ái dục, ảo tưởng về ái dục, đưa người về nẻo chết. Ái dục là nguồn gốc của sinh tử. Ái có liên quan tới luyến ái, mắc kẹt vào đối tượng nào đó. Ham muốn sáu trần làm phát khởi sáu thứ dục bao gồm sắc dục, thanh dục, vị dục, xúc dục, ý dục, hương dục. Sáu dục đều có đủ trong tình dục.

Không thấy rõ ái dục, mới vướng vào ái dục. Sở dĩ bị vướng vào ái dục vì vướng vào cảm thọ, tưởng rằng thọ là thật nên muốn nắm giữ. Mắt thấy sắc đẹp, mình thấy dễ chịu nên muốn nhìn vào sắc đẹp đó để tìm kiếm cảm thọ được cho là dễ chịu, ăn uống những thức ăn ngon để cung phụng lưỡi của mình…

Ảo tưởng về ái dục đưa người về nẻo chết. Muốn ăn những thức ăn lạ nên người đi tìm kiếm. Tìm kiếm được và hưởng rồi thì sẽ không bao giờ thỏa mãn vì sự thỏa mãn không thực có. Nếu có thật theo nhận thức của người tìm kiếm thì nó trôi qua rất mau. No nê ái dục, mình muốn thỏa mãn tiếp cũng không được, như khi ăn no những món ưa thích thì không ăn được nữa, hay đối với những người quan hệ tình dục, lúc chưa quan hệ thì họ cứ ham muốn để thỏa mãn, nhưng khi thỏa mãn rồi mà yêu cầu họ thực hiện hành vi quan hệ nữa thì họ không thể làm được, phải chờ một thời gian để năng lượng tình dục phát khởi trở lại.

            Tu tập cũng vậy, tu nhiều quá, bắt tu nữa cũng không được, phải chờ cái đói tới mới tu được tiếp, nên khi tu cần phải có những khổ đau, chính khổ đau nhắc mình tu nữa. Mình cứ tưởng rằng tu là phải có hạnh phúc, cái này phải xem lại vì nhiều khi đó là cái tưởng. Sau mỗi cơn khổ, mình lại tu tập mạnh mẽ hơn, không ai dập sự tu tập của mình xuống được. Cho dù có bị các bậc phạm chí hay các vị sa môn chê bai thì con đường mình đã chọn, mình vẫn cứ đi.

Không bao giờ mình no vì cái cho là no sẽ đói trở lại do quy luật vô thường. Muốn hết đói thì phải ăn, ăn tiếp sẽ no. Cung phụng cho ái dục quá nhiều thì mình sẽ làm việc cho tới chết mà không bao giờ thỏa mãn. Tất cả chúng sinh chạy vào ái dục như con thiêu thân, người ta tưởng về ái dục, như con thiêu thân tưởng về ngọn đèn trong thau nước. Đức Phật ví ái dục như mật trên lưỡi dao, vị ngọt rất ít nhưng lại bị nạn đứt lưỡi.

Ái dục là nguồn gốc sinh tử, người ta sống chết chỉ vì ham muốn của mình. Thực tập thiền, ái dục nổi lên thì phải niệm, không bịt mắt, bịt mũi, bịt tai, bịt lưỡi lại mà hãy nhận rõ rằng đây là một đối tượng không đáng tìm cầu hay dính mắc. Mình ăn uống và có sức khỏe. Sử dụng sức khỏe ngồi thiền, tụng kinh, giúp đỡ người, không ăn uống để no thân và phục vụ cho ái dục, bằng không phước sẽ giảm dần.

Mình có đầy đủ thức ăn là phước rất lớn. Trên thế giới có nhiều người không đủ thức ăn, nước uống, giờ mình có phước đó nên hãy ăn trong chánh niệm, nguyện rằng sử dụng thức ăn này để tu tập tinh chuyên, thành tựu đạo quả, phổ độ chúng sinh. Ăn là để tu, không phải phục vụ cho nhu cầu của ái dục, bằng không là có tội với thức ăn. Ăn uống có hiếu là khi đem năng lượng của sự ăn uống để phụng sự mình và phụng sự chúng sinh.

Thấy chân tướng ái dục, tâm ái dục không sinh, tâm ái dục không sinh, ai cám dỗ được mình. Đối với người tâm bất động dù đối tượng ái dục đứng trước mặt cũng không cám dỗ được. Mình thực tập quán thân bất tịnh, biết thân này là đại gia hôi thối, tiềm ẩn nhiều khổ đau. Thân thể được thế gian xem là ngọc ngà nhưng trong con mắt người tu chứa nhiều thứ bất tịnh, không mang lại giá trị gì, tuy nhiên nếu biết tận dụng chúng để tu tập thì thân này sẽ thanh tịnh như lưu ly. Người ta nói: Tâm Phật sáng ngời như trăng tỏ, thân Phật thanh tịnh như lưu ly. Phải làm cho tâm sáng ngời như vậy, dội tới đối tượng của ái dục nào cũng không bị kẹt, cũng không dính mắc.

Để buông xả những cám dỗ, cách hay nhất là thực tập giữ giới, năm giới cư sĩ là cơ bản, sa di là 10 giới, tỳ kheo là 250 giới... mình có đầy đủ tài sản về giới luật để gìn giữ. Năm giới cư sĩ: Giới thứ nhất là không sát sinh, không giết hại sinh mạng của ai, kể cả các loài động vật và môi trường. Giới thứ hai là tôn trọng quyền tư hữu, có nghĩa là không trộm cắp, không tích trữ đầu cơ, không làm giàu bất chính. Giới thứ ba là bảo vệ tiết hạnh, trước hết là cho mình, không quan hệ trước hôn nhân, không bày đặt sống thử, không quan hệ với người không phải là vợ hay chồng của mình, giữ hạnh chung thủy, nghĩa tào khang. Giới thứ tư là tôn trọng lời nói thật, nghĩa là không nói dối, không nói lời thêu dệt, không nói lời hai lưỡi và ác ngữ, hay những lời gây chia rẽ. Giới cuối cùng là bảo vệ và nuôi dưỡng thân tâm, chỉ ăn uống những thức ăn lành mạnh, những tiêu thụ qua sáu căn phải lành mạnh. Sản phẩm mình tiêu thụ mà thấy bất an, bạo động, cuồng tín, sợ hãi, hận thù thì đừng tiêu thụ. Trước đây mình đã lỡ tiêu thụ thì mình phải sám hối và nguyện rằng không bao giờ tái phạm, mình phải làm lại, làm mới từ đầu, tu tập là lúc nào cũng phải làm mới. Sám hối đừng tái phạm theo kiểu là : nhớ ai như nhớ thuốc lào, đã chôn điếu xuống lại đào điếu lên. Khi ái dục tới gõ cửa dụ dỗ mà tâm ái dục không sinh ra thì cho dù hoàn cảnh có đầy dẫy ái dục xung quanh thì không ái dục nào cám dỗ được mình.

Cho nên lúc nào cũng phải có chánh niệm. Chánh niệm là phương pháp như sợi tơ sen trói chặt con mãnh hổ. Mãnh hổ ở đây là tâm ái dục sai sử mình phải chiếm hữu đối tượng ái dục. Khi có chánh niệm miên mật, để luồng điện chánh niệm lúc nào cũng “on” thì trở thành chất kháng sinh kháng lại tất cả vi khuẩn ái dục. Nhìn sâu hơn, đối tượng ái dục không xấu mà do tâm ái dục khiến đối tượng trở lên xấu. Vì thế vấn đề không phải là đối tượng ái dục kia như thế nào mà là tâm của mình như thế nào, nếu tâm ái dục sai sử thì dù đối tượng xấu xí cỡ nào mình vẫn luyến ái như thường. Người ta nói rằng: Chánh niệm miên mật như luồng kháng sinh diệt trừ những con virus gây bệnh. Để buông xả được những cám dỗ phải gìn giữ giới luật, thực tập chánh niệm thường xuyên.

Trừ dục vượt ba mạn, tâm lặng hết mong cầu, mọi đau phiền cởi bỏ, đời này và đời sau. Sở dĩ người ta khổ vì người có ba sự so sánh, so sánh hơn, kém, bằng.

Mặc cảm hơn kém bằng, tạo ra nhiều rối rắm, ba mạn đã vượt rồi, tâm không còn khuynh động. Khi ai hơn mình, mình ghen tức: Tại sao người đó có nhiều tài sản hơn, hạnh phúc hơn… tâm đố kỵ phát khởi gây ra phiền não. Để diệt trừ tâm ghen tỵ, đố kỵ thì thực tập tâm tùy hỷ, thấy người hạnh phúc quá thì khởi tâm: Hay quá, người có phước quá! và mình vui với hạnh phúc của người. Khi thấy người giỏi giang, điểm cao nhất lớp, thi đậu thủ khoa: À hay quá, anh này phải rày công lắm mới đạt được kết quả như vậy. Bản thân điều chỉnh tâm lại, phát tâm tùy hỷ thì thấy vui vẻ, còn khi phát khởi ý nghĩ đố kỵ, ghen tỵ mai kia mình thành công sẽ có người ghen tỵ lại, phải trả nghiệp bị người khác ghen tỵ. Khi ghen tỵ nổi lên thì biết: À con đang có tâm ghen tỵ nổi lên. Tâm bất thiện sẽ dẫn tới những hành động bất thiện, dừng lại tâm này và phải niệm cho cái tâm lắng dịu đi cho tới khi không còn nữa, tâm bất thiện nào khởi lên hãy thực tập chuyển hóa cho được, đó là chánh niệm về tâm. Làm được vậy sẽ thoải mái an nhiên trong mọi hoàn cảnh.

Khi kém người, mình tự ti mặc cảm, khi hơn người mình kiêu căng, khi bằng người thì mình so đo. Cho nên đức Phật dạy mặc cảm hơn, kém, bằng tạo ra nhiều rối rắm. Sở dĩ thế giới này tranh giành do đâu? Mười phương loạn lạc cả mười phương, tranh giành từng thị phần. Có người là tỷ phú vẫn phá sản như thường, trong một đêm mất 30 tỷ, đó là một tỷ phú bên Đức. Hãng General Motor được xem là một tập đoàn lớn của Mỹ vẫn phải nộp đơn xin phá sản, chính phủ không cứu thì tòa án sẽ chấp nhận đơn phá sản và không còn tập đoàn này nữa. Tập đoàn Siemens bên Đức đang nằm trong vòng khủng hoảng. Đây là tập đoàn đa ngành nghề, tuyển dụng hàng chục nghìn nhân viên làm việc, khi khủng hoảng tới thì vẫn có nguy cơ bị phá sản. Hãng phim Kodak phá sản sau 133 năm. Cho nên không có gì là mãi mãi, không có gì là muôn năm. Một tập đoàn lớn có thời gian tồn tại hàng trăm năm như vậy vẫn bị sụp đổ huống chi tình cảm, sự nghiệp, tài sản của một cá nhân, nó còn mong manh hơn nhiều.

Mạng sống của mình cũng rất mong manh, đâu biết mai mình có còn sống? Con biết ngày mai con sẽ chết, con chỉ còn 24 tiếng đồng hồ cho nên con phải làm cho 24h đồng hồ đó thật sự tinh khôi. Muốn cho tinh khôi con phải thực tập giới định tuệ miên mật, 9h con đi ngồi thiền, 4 giờ sáng con dậy đi thiền, 10h con tụng kinh, tụng giới, sám hối, thực tập rải tâm từ bi, và trong những giờ đó con đúc rút mình đã thành tựu được gì và chưa được gì? Đừng để ngày mai mới làm vì mai còn sống nữa đâu mà thực tập. Có bài hát là Nếu chỉ còn một ngày để sống, nếu còn một ngày để sống con sẽ sống sâu sắc trong giới định tuệ, tất cả những luyến ái tham dục khác bỏ hết, không đáng cho con tìm cầu vào. Khi thực sự có giới định tuệ thì dù một ngày thôi, ngày mai có chết con vẫn bình an.

Đức Phật dạy rằng cho dù sống 100 năm không thấy pháp diệt sinh đâu bằng sống môt ngày mà thấy pháp diệt sinh. 100 năm mà ngày nào cũng phạm giới hết đâu bằng ngày nào cũng sống có giới định tuệ. Trong cuốn Thảnh thơi đi giữa dòng đời tôi có viết bài Bình yên khi mái tóc còn xanh. Sự thực tập giới định tuệ không dành cho người già mà dành cho người trẻ tại vì già đâu còn sức phải nhờ máy niệm giùm, ngồi thiền không nổi chỉ có thể nằm thiền, nhiều khi nằm cũng không nổi suy nghĩ đủ thứ hoặc đi vào giấc ngủ. Cho nên khi còn trẻ phải thực tập ngay, như thế con đường bình yên của mình sẽ được dài hơn, còn người già nếu thành công thì chỉ bình yên lúc già. Mình còn trẻ và hãy biết rằng bản thân may mắn hơn người già rất nhiều. Người già mà không lo thực tập thì người già vẫn đau khổ, có thể thân thể đã già mà đầu óc vẫn còn trẻ thơ vì không thực tập.

Còn trẻ mà gặp được Phật Pháp thì biết rằng mình may mắn, phước đức rất lớn, nếu thực tập nữa thì phước đức lớn hơn nữa, nếu mang lại hạnh phúc thực sự cho mình và cho người xung quanh thì lại càng lớn nữa. Bởi vậy phải hiểu rằng trong gia đình mà có một đứa con đi tu thì phước rất lớn và nếu ngăn cản đứa con đi tu thì biết bao phước đức trước đây mất hết, thậm chí tạo nghiệp xấu. Khi đứa con đi tu hãy hết sức hoan hỉ vì đứa con này mang lại phước đức không biết bao nhiêu. Khi đứa con đi tu thì gia đình hưởng phước ba đời, nếu đứa con thành đạo thì hưởng phước bảy đời.

Đức Phật dạy rằng: Trừ dục vượt ba mạn, tâm lặng hết mong cầu, mọi đau phiền cởi bỏ, đời này và đời sau. Có nghĩa là phước của mình hưởng do sự tu tập mang lại không chỉ có đời này mà cả đời sau. Tại sao mình không lo tu tập, ngay khi thực tập thì sẽ có hạnh phúc liền, vừa niệm câu A Di Đà Phật là có hạnh phúc liền, không đợi tới khi thực tập xong 108 niệm. Còn nhiều bài để mình thực tập như thực tập thiền theo dõi hơi thở, đi thiền... hạnh phúc vô cùng. Khi mình thực tập và có người tu xung quanh nhắc nhở mình thực tập, giúp cho mình đi đúng con đường là biết mình hạnh phúc lớn nhường nào, không có gì bằng. Không phải có máy bay, nhà cao cửa rộng mới có hạnh phúc, những tài sản sự nghiệp cao lớn làm cho mình khổ, tình cảm dính mắc làm cho mình khổ, con cái làm cho mình khổ… Thấm thía được nỗi khổ của cuộc sống cho nên con quyết tâm hành trì thực tập giới định tuệ để có thể chuyển hóa nỗi khổ niềm đau của bản thân, của chồng vợ, ba mẹ, của thế hệ tiếp nối và người sống xung quanh con. Muốn giúp được cho người xung quanh thì phải thực tập, nếu không có kinh nghiệm thì không thể giúp, nhắm mắt mà giúp thì việc giúp sẽ khiến người mất niềm tin vào Phật pháp, là tạo nghiệp. Khi có tu có chứng có an lạc có thảnh thơi thì mình mới có thể giúp cho người khác. Thời gian đầu hãy chuyên tu, bởi khi tu là đã giúp đời, cuộc đời bớt đi điều bất thiện, ba mẹ bớt lo lắng vì mình có thể đứng vững trên đôi chân của mình.

Đứa con đi tu là đứa con có hiếu, vì có thể tự xây dựng thành trì hạnh phúc cho mình, nhìn đứa con không còn khổ đau, ba mẹ sẽ không còn lo lắng. Khi con có thành tựu quay về độ cho ba mẹ, ba mẹ có những tập khí khổ đau vô cùng, giờ con của mình về có cơ hội thực tập, mình nương vào. Ngày xưa con nương mình, giờ mình nương con. Giống như thuở ban đầu thì học trò nương thầy, giờ thầy già cả rồi, đầu hai thứ tóc, thầy giờ nương vào mấy đứa học trò. Cho nên chúng ta nương tựa vào nhau, vạn vật nương nhau mà sống, không ai đơn phương độc mã cả, khi ta mất cái này sẽ có cái kia. Mất cha còn mẹ, mất mẹ còn thầy, mất thầy còn bạn. Cho nên là nương nhau mà sống và mình đừng cho mình có cảm giác cô độc, mình không bao giờ bị cô độc cả.

Đi thiền không được thì ngồi, ngồi thiền không được thì nằm, nằm ngửa không được thì nằm nghiêng thiền, không thiền được thì niệm Phật, niệm không được thì nghe, nghe không được thì nhìn… có đầy đủ phương tiện thực tập, không có gì bế tắc lúc nào cũng có con đường cho mình đi, vấn đề là có dám bước vào con đường không, có dám buông bỏ những dính mắc để thực tập giới định tuệ hay không. Những người đi tu là người rất dũng cảm vì đã chiến thắng những tên giặc, tên trộm lôi kéo mình luyến ái ở trong tâm. Khi bị những tên trộm, tên giặc lôi kéo đi, mình sẽ bị bầm dập, cho tới lúc ngồi lại không hiểu tại sao mình bị bầm dập.

Phải thực tập bố thí, bố thí ba la mật: nội thí, ngoại thí, pháp thí, và vô úy thí. Ngoại thí là bố thí những đối tượng bên ngoài như cơm áo gạo tiền tứ vật dụng, bố thí cho người cần. Trong thời buổi khó khăn mà bố thí được như vậy là hay lắm, nhưng còn có sự bố thí hay hơn là nội thí, như người hiến máu, nội tạng, bố thí những thứ bên trong khó hơn những cái bên ngoài. Lại còn có sự bố thí hay hơn nữa là pháp thí, pháp thí là nói pháp cho người khác nghe, để họ tu tập và chuyển hóa nỗi khổ niềm đau, giúp họ có được bình an trong cuộc sống. Để nói pháp thì mình phải tu để có kinh nghiệm truyền đạt, không chỉ có tu sĩ nói pháp mà cư sĩ cũng nói pháp được vậy. Không cần nói lời hoa mỹ cao siêu mà chỉ cần bình dị, dân dã, gần gũi, vì đức Phật dạy phải sử dụng những ngôn từ gần gũi với đối tượng nghe để họ dễ tiếp nhận. Khi bố thí pháp phước đức rất lớn. Cuối cùng có loại bố thí cao siêu nhất, đó là vô úy thí. Vô úy thí là gì? Là một loại tâm. Trong 51 tâm hành có hai loại tâm đi với nhau là vô ưu và vô úy, tâm vô ưu là tâm không phiền não, tâm vô úy là không sợ hãi, mà không sợ hãi tức là bình an, an lạc. Bố thí vô úy ban tặng bình yên an lạc cho người khác và muốn ban tặng như vậy phải thực tập giới định tuệ, có bình yên rồi thì mới có thể vô úy. Nếu như đã có đóa hoa vô ưu tức là không phiền não thì hãy làm tiếp một đóa hoa không sợ hãi, đóa hoa vô úy.

Đức Phật Dược Sư có nguyện rằng: Cho dù mặt trăng mặt trời có sập xuống tôi vẫn thực tập tất cả các hạnh của Phật. Còn giờ mình nguyện chỉ một chút, khổ đau của mình có chút thôi đã chịu không nổi vậy làm sao có thể đối diện với những khổ đau lớn hơn, đó là vấn đề sinh tử. Những khổ đau về tiền bạc, tình cảm, sự nghiệp, học hành không so sánh được với khổ đau của sinh tử. Cho nên muốn bố thí vô úy tức là không sợ hãi thì phải thực tập giới định tuệ và đem cái tâm vô úy đó cúng dường chư Phật.

Đức Phật có dạy rằng không có hương thơm nào bằng hương thơm của giới, của định, của tuệ, của tri kiến, của tri kiến giải thoát. Hãy đem những hương thơm này đem lên bàn thờ cúng dường chư Phật. Không cần cúng hoa quả, nước, quần áo quá nhiều, mà cách cúng dường cao thượng nhất là sự tu tập, hãy đem tâm tu mà cúng dường chư Phật, mình hãy đọc lại Kinh Cúng dường cao thượng. Ngoại thí có thể đem lại cho mình giàu sang, nội thí có thể đem lại cho mình sức khỏe, pháp thí có thể mang lại cho mình trí tuệ, vô úy thí thì mang lại cho mình quả vị giải thoát. Đó là nhân quả trong sự thực tập nên bố thí mà cầu giàu sang thì mong manh, cầu sức khỏe vẫn mong manh, cầu trí tuệ thì dày hơn, còn cầu giải thoát, cầu gặp đạo nhiệm mầu mới gọi là cầu nguyện tối thượng. Người ta nói: Khi bố thí không cầu phước báu giàu sang trí tuệ chỉ mong thấy đạo nhiệm mầu. Cho dù làm tỷ phú như Bill Gates mà vẫn trải qua sinh tử thì vẫn khổ đau như thường, cho nên mình thực tập bố thí ba la mật, bố thí chỉ để bố thí vì không thấy ai bố thí, không thấy vật bố thí, không thấy ai nhận, tất cả là do duyên sinh duyên diệt, tùy duyên mà bố thí. Bố thí là một trong sáu pháp môn đi tới giải thoát, đi song hành với giữ giới. Ngày xưa đức Phật bố thí mà cái thân cũng cho, cho con sư tử đang đói.
Kinh Tuổi trẻ và hạnh phúc tuy dài nhưng thực ra tinh yếu chỉ có như sau:

Không thấy rõ ái dục
Mới vướng vào ái dục
Ảo tưởng về ái dục
Đưa người về nẻo chết.

Thấy chân tướng ái dục
Tâm ái dục không sinh
Tâm ái dục không sinh
Ai cám dỗ được mình.

Mặc cảm hơn, kém, bằng
Tạo ra nhiều rối rắm
Ba mạn đã vượt rồi
Tâm không còn khuynh động.

Trừ dục, vượt ba mạn
Tâm lặng, hết mong cầu
Mọi đau phiền cởi bỏ
Đời này và đời sau.

Hãy học thuộc lòng bốn bài kệ trên. Mình buông bỏ chấp, không còn ba mạn, chánh niệm tâm thì sẽ nhận diện ra được ái dục phát khởi và mình chấm dứt ái dục đó đi. Đó là nội dung bài Kinh Tuổi trẻ và hạnh phúc. Nghe xong rồi mình hãy nằm thiền, ngồi thiền, niệm giới… có rất nhiều bài thực tập cho mình. Mình thật là may mắn. 

Thứ Sáu, 11 tháng 9, 2015

Thông báo tặng sách GIA TÀI CỦA NGƯỜI TỈNH THỨC


Thông báo tặng sách GIA TÀI CỦA NGƯỜI TỈNH THỨC 
Khu vực CHÂU Á 
Được sự đồng ý của tác giả, Cư sĩ Diệu Nhung, Cư sĩ Tâm Thành và các Cư sĩ khác hùn phước ấn tống và gửi tặng sách GIA TÀI CỦA NGƯỜI TỈNH THỨC (Thực tập Kham nhẫn) phiên bản tiếng Việt cho các đối tượng sau đây:
1. Đọc giả người Việt đang sinh sống và làm việc trong khu vực VIỆT NAM và CHÂU Á.
2. Các tu sĩ Phật giáo người Việt không phân biệt tông phái.
3. Các cư sĩ người Việt đang nghiên cứu và thực tập Phật giáo.
4. Các cư sĩ khác.
Xin vui lòng gửi thư yêu cầu nhận sách tặng đến địa chỉ email sau đây: damlinh.that@gmail.com
Trong thư, vui lòng ghi rõ:
Thư yêu cầu nhận sách GIA TÀI CỦA NGƯỜI TỈNH THỨC
Họ tên (ghi đầy đủ có dấu tiếng Việt (tại Việt Nam), tên theo hộ chiếu (ngoài Việt Nam)):
Địa chỉ: (ghi đầy đủ số nhà, tên đường, tên phường, tên quận, tên thành phố hay tỉnh thành (tại Việt Nam)/ theo quy định nước sở tại (ngoài Việt Nam))
Số điện thoại (ghi đầy đủ mã vùng nếu có):
Địa chỉ email (nếu có):
Số lượng (tối đa 20 cuốn (địa chỉ tại Việt Nam)/ tối đa 3 cuốn (địa chỉ ngoài Việt Nam):
Thư yêu cầu gửi sách vui lòng gửi trước ngày 15/3/2016. Sách sẽ được gửi đi bắt đầu từ ngày 16/3/2016.
Do số lượng có hạn nên sách được gửi đi theo thứ tự ưu tiên đối tượng được ghi ở trên. Sách sẽ được gửi qua đường bưu điện theo thông tin địa chỉ Quí Vị cung cấp.
Chân thành cám ơn Quí Vị đã dành chút ít thời gian đọc thông báo này.
Kính chúc Quí Vị an lạc và thảnh thơi. 
Chúng con xin hồi hướng công đức này đến cho BA MẸ ở hiện tại và mười phương, chúng sinh ở hiện tại và mười phương, đều trọn thành Phật đạo trong phút giây hiện tại.
Cư sĩ Diệu Nhung
Cư sĩ Tâm Thành
Các Cư sĩ khác
Đàm Linh Thất
Sống trong hiện tại – Bình yên tự tâm 
Hùn phước ấn tống kinh sách và tài trợ các dự án ấn tống, Quý vị vui lòng gửi đến: 
Tên tài khoản: Bùi Quốc Liêm
Số tài khoản (VND): 007 100 104 7695 
Tại Ngân hàng: Vietcombank TpHCM

Cám ơn Quý vị.
Cư sĩ Diệu Nhung 

Thứ Năm, 11 tháng 6, 2015

Thông báo tặng sách RONG CHƠI TUỔI THƠ

Thông báo tặng sách RONG CHƠI TUỔI THƠ 
phiên bản tiếng Việt 
khu vực ĐÔNG NAM Á và ĐÔNG Á

Được sự đồng ý của tác giả, Cư sĩ Diệu Nhung ấn tống và gửi tặng sách RONG CHƠI TUỔI THƠ (Truyện ngắn theo tinh thần Phật giáo), phiên bản tiếng Việt cho các đối tượng sau đây:
1. Độc giả người Việt đang sinh sống và làm việc trong khu vực ĐÔNG NAM Á, bao gồm: Việt Nam, Thái Lan, Lào, Campuchia, Phillipines, Singapore, Malaysia, Indonesia, Đông Timor, Brunei, Miến Điện; khu vực ĐÔNG Á, bao gồm: Hongkong, Macau, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, Đài Loan, Đại Hàn Dân quốc, CHDCND Triều Tiên, Nhật Bản, Mông Cổ.
2. Các tu sĩ Phật giáo người Việt không phân biệt tông phái.
3. Các cư sĩ người Việt đang nghiên cứu và thực tập Phật giáo.
4. Các cư sĩ khác.
Xin vui lòng gửi thư yêu cầu nhận sách tặng đến địa chỉ email sau đây:
damlinh.that@gmail.com
Trong thư, vui lòng ghi rõ:
Thư yêu cầu nhận sách RONG CHƠI TUỔI THƠ
Họ tên (ghi đầy đủ có dấu tiếng Việt (tại Việt Nam), tên theo hộ chiếu (ngoài Việt Nam)):
Địa chỉ: (ghi đầy đủ số nhà, tên đường, tên phường, tên quận, tên thành phố hay tỉnh thành (tại Việt Nam)/ theo quy định nước sở tại (ngoài Việt Nam))
Số điện thoại (ghi đầy đủ mã vùng nếu có):
Địa chỉ email (nếu có):
Số lượng (tối đa 25 cuốn (địa chỉ tại Việt Nam)/ tối đa 2 cuốn (địa chỉ ngoài Việt Nam):
Thư yêu cầu gửi sách vui lòng gửi trước ngày 10/12/2015. Sách sẽ được gửi đi bắt đầu từ ngày 10/1/2016.
Do số lượng có hạn nên sách được gửi đi theo thứ tự ưu tiên đối tượng được ghi ở trên. Sách sẽ được gửi qua đường bưu điện theo thông tin địa chỉ Quí Vị cung cấp.
Chân thành cám ơn Quí Vị đã dành chút ít thời gian đọc thông báo này.
Kính chúc Quí Vị an lạc và thảnh thơi.

Chúng con xin hồi hướng công đức này đến cho trẻ em ở hiện tại và mười phương, ba mẹ ở hiện tại và mười phương, chúng sinh ở hiện tại và mười phương, đều trọn thành Phật đạo.
Cư sĩ Diệu Nhung
Đàm Linh Thất
Sống trong hiện tại – Bình yên tự tâm